RƯỢU HỒNG ĐÀO PHẦN I : CÔNG NGHỆ NẤU RƯỢU HỒNG ĐÀO TRUYỀN THỐNG

(Trích cuộc nói chuyện với cô em gái)

 

Thanh Hà : Anh ơi, dạy em nấu thứ rượu gì làm kinh tế đi. dạy nấu rượu gì đó dân gian thôi, không quá quí giá như Lưu Ly Mỹ Tửu của anh là được rồi.

Wambuakim : à, anh muốn dạy em và mọi người làm rượu Hồng Đào.
Rượu Hồng Đào ngon ngang ngửa rượu Bồ Đào. Em nhớ bài thơ nổi tiếng này không ?

Bồ Đào mỹ tửu Dạ quang bôi
Dục ẩm, tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
(Lý Bạch)

Thanh Hà : Tên rượu gì nghe quen quen, hình như trong ca dao có nè phải không anh ?
Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Hồng Đào chưa nhấm đà say
(ca dao xứ Quảng)

Wambuakim
uh, rượu Lưu Ly là thứ quá sang trọng vì vậy ngày xưa chỉ dành cho vua chúa
còn rượu Bồ Đào thì dành cho chiến tướng nơi sa trường
rượu Hồng Đào thì lại dành cho tình duyên, hò hẹn, cưới hỏi gần giống với Lưu Ly

Thanh Hà : Nhưng rượu Hồng Đào nấu bằng cái gì hả anh ?

Wambuakim : Ừ, thì cũng nên biết thế nào là rượu Hồng Đào nhỉ.
Nhiều người cho rằng rượu Hồng Đào chỉ là sản phẩm “vật chất hóa một đặc sản tinh thần”. Nhà thơ Lê Minh Quốc cũng cho rằng rượu Hồng Đào không có thật. “Hồng Đào” chỉ là một cách nói văn vẻ, văn hoa – vốn là một cách nói hiếm khi thấy người Quảng sử dụng trong giao tế.. Và cho rằng: “Với người Quảng Nam, rượu nào cũng có thể biến thành rượu Hồng Đào, miễn là nó được gói trong tờ giấy kiếng màu hồng, được thắt nơ hồng và được đưa vào mâm lễ ở các đám hỏi, đám cưới…”
Tuy nhiên theo nhà báo Nguyễn Trung Dân thì: “rượu Hồng Đào khắp cả Quảng Nam nơi nào cũng có và thường chỉ làm ra dùng vào việc lễ, dịp cưới hỏi nghinh hôn, lấy làm rượu hợp cẩn giao bôi. Cách chế tác như sau: lấy rượu đế (trắng) thường nấu bằng gạo sau khi lên men, dùng cây tăm hương (chân hương đã đốt còn trong bát nhang) hay lấy cái vỏ bao hương nhúng vào rượu trắng, nhuộm màu hồng của chân hương hay vỏ bao hương cho rượu, nên rượu Hồng Đào” để khác với rượu thường ngày thường. (theo Wikipedia)

Thanh Hà : Trời đất. Không lẽ lấy rượu vớ vẩn nào đó rồi pha màu đo đỏ, bọc giấy hồng điều đi đám cưới đám hỏi là thành rượu Hồng Đào sao anh ? Anh không định dạy em làm thứ đồ dỏm đó chớ ?

Wambuakim : Không phải đâu em, rượu Hồng Đào là có thật, và nó là quí tửu Việt Nam chớ không phải đồ dỏm của ông Trung Dân đâu.

Thanh Hà : Nhưng anh ở trong Nam mà sao biết nấu rượu Hồng Đào hay vậy ?

Wambuakim :
Số là năm 2004, anh lại đi du phương nghiên cứu
Hồi đó chưa có khu Du lịch Bà Nà mà chỉ có núi non hoang sơ, anh khởi hành từ Bà Nà, lần mò Trường Sơn đến cổ kinh Trà Kiệu của ngưới Chăm Pa
Xong rồi lại cắt rừng đi về phía biển, băng qua Tam Kỳ – Quảng Nam đến khu Kỳ Trung (bây giờ là Tam Thắng, TP Tam Kỳ – Quảng Nam).
Một đêm tối mịt mù cuối tháng 5 năm 2004, anh lần mò đến một ngôi nhà “bánh ú” cổ kính nằm giữa một rừng điều. Bát ngát một biển điều


Thanh Hà : Vậy là ở đó có ai bỏ quên chai rượu Hồng Đào, anh … uống đại chớ gì ?

Wambuakim : Nói xấu cho kẻ ác không à, để từ từ anh khai báo chớ em.
Ở đó, một cụ ông quê gốc làng Bảo An, Điện Ban, nơi phát tích loại rượu Hồng Đào nổi tiếng. Ông ấy tiếp đãi anh, cho anh uống một thứ rượu màu đỏ hồng, thơm ngan ngát, uống đến đâu muốn say liền đến đó

Thanh Hà
Hấp dẫn quá đi

Wambuakim :
Hỏi ra mới biết là rượu Hồng Đào. Cái tên Hồng Đào buông ra như một tiếng sét.
máu nghề nghiệp trỗi lên, anh hỏi nguyên liệu để nấu rượu Hồng Đào, thì ông ấy chỉ ngay ra rừng điều trước mặt : “nấu bằng trái đó đó”
anh hỏi : “nấu bằng trái điều hả ?” (gật đầu) Anh thắc mắc : “Vậy sao không gọi là rượu hồng điều hay đơn giản là rượu điều mà gọi là … Hồng Đào ?”
ông ấy nói : “Người Quảng Nam chúng tôi gọi trái đó là trái ĐÀO LỘN HỘT, hoặc vắn tắt là trái ĐÀO, không gọi trái điều như trong Nam”

Thanh Hà
À…thì ra vậy

Wambuakim
hahaha
thế là anh đã hiểu
. . . . . . . . . . . . .
nhưng anh lại thắc mắc là nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không có rượu hồng đào (như Lê Minh Quốc). Nói khác đi, ông Quốc cho là rượu gói trong giấy đỏ (giấy hồng đơn) để đi đám cưới thì thành rượu hồng đào thôi, chứ rượu hồng đào không có thật.
ông cụ (năm đó đã 82 tuổi) cho biết là rượu Hồng đào bây giờ hầu như ko còn ai biết cách nấu, mọi thứ rượu cứ pha phẩm màu đo đỏ là kêu bằng rượu hồng đào
“Tòan đồ dỏm hết”. Ông cụ nói chắc nịch

Thanh Hà
Ôi phí quá đi mất

Wambuakim
Không phí đâu em, thế là anh ở đó hơn một tuần học cho được cách nấu rượu Hồng Đào


Thanh Hà
Ôi…nghe câu chuyện hay quá. Làm sao nấu hả anh ?

Wambuakim
Em chú ý khâu chuẩn bị nè :
1/. 8 đến 10 Kg trái điều (đào lộn hột, đẹp và mẩy) rửa sạch, xắt lát dày 1 Cm, để ra nia, phủ khăn hong cho ráo nước và tự lên men sơ bộ trong 24 giờ
2/. Nấu một nồi cơm bằng gạo tẻ (nấu không được khô quá)
3/. Chuẩn bị 2 Kg đường mật mía
4/. Men rượu là loại men “lá” (tức men thuốc bắc, ra tiệm thuốc bắc hỏi thuốc ủ men rượu là có)
men rượu nghiền ra, pha trong nước ấm 50 độ C đến 60 độ C cho tan, lọc lấy nước rồi chan đều vào nồi cơm đã để nguội.

Thanh Hà : Vậy cũng đơn giản hả anh ? rồi làm sao nữa ?

Wambuakim :
Bây giờ ủ men trong cái khạp vách đứng 15 lít nè
1/. trộn đường mía vào nồi cơm đã nguội.
2/. trải một lớp cơm chừng nửa Cm rồi trải một lớp trái điều lên trên
3/. Đến khi khạp đầy thì them nước ấm 40 độ cho ngập mặt nguyên liệu rồi phủ khăn sạch lên mặt khạp, đậy kín
4/. Sau 6 ngày lên men thì mang ra lọc bỏ xác, nước lọc lại bằng than củi hay vải sạch (bây giờ thì nên lọc bằng than họat tính) để loại bỏ các aldehyd và methanol gây độc, nhức đầu.
5/. Nước bấy giờ là rượu hồng đào “thô”, có màu đỏ hồng. Cho rượu vào chai, đậy nút kín, ủ 1 đến 2 ngày.
6/. Đem luộc các chai ở 70 độ C trong 1 giờ để không lên men chua.
Hòan tất sẽ được khỏang 8 đến 10 lít rượu Hồng Đào
Rượu này uống có vị ngọt nhẹ, hơi chan chát như rượu nho, mùi vị rất kỳ diệu

Thanh Hà
Em ko biết đường “mật mía”.

Wambuakim
Là đường nấu bằng mía đó, một phần lớn đã kết tinh thành đường vàng, đáy còn chảy nước như mật ong

khắp nơi đều có, rẻ lắm em. ra chợ có khi em thấy cả khối đường mía, gọi là “muỗng đường”. Ở đường Hàm Tử Q5, TP HCM có đó em.

Thanh Hà
Dùng đường cát tinh đc ko anh

Wambuakim
Sau này anh có dùng thử đường cát tinh thì thấy hương vị rượu gắt chứ không được nhẹ nhàng như dung đường mật mía

Thanh Hà
cách làm ko khó anh nhỉ

Wambuakim : Dĩ nhiên là không khó, chỉ là biết hay không thôi mà.

Thanh Hà
Em chưa hiểu luộc các chai để ko lên men chua là sao. Là luộc trước khi cho rượu vào hay sau khi ủ vậy anh ?

Wambuakim
Luộc để dùng nhiệt độ cao, tiêu diệt con men chết hết chớ sao ? Nếu không giết hết con men thì nó tiếp tục phân hóa làm rượu bị chua.

Thanh Hà : Ai chà, hay quá hả anh ?

Wambuakim
Như vậy đó, tóm lại rượu Hồng Đào là có thật và là quy tửu, Hồng Đào ngon tuyệt trần chứ không phải là cái thứ đồ dỏm như ông Minh Quốc và Trung Dân nói.
Dĩ nhiên là các thứ rượu Hồng Đào bán lăng nhăng khắp nơi đều là đồ dỏm

Thanh Hà
Rượu ủ xong bao nhiêu độ anh ?


Wambuakim
Rượu hồng đào đúng mức thì khỏang 30 độ, nhưng hương vị rất đặc trưng, hậu hơi chan chat như rượu Bồ Đào. Anh chỉ thấy nó thua mỗi Lưu Ly mỹ tửu mà thôi

Thanh Hà

Em ko biết uống rượu nên ko so sánh đc…nhưng em muốn có 1 loại rượu ngon và bổ, nhẹ độ cho phụ nữ

Wambuakim
men thì sau này anh dùng men bia ủ thử cũng có được rượu ngon, nhưng chỉ nhẹ độ thôi.
Nếu muốn ngon, bổ và nhẹ độ thì em dùng men bia mà ủ là vừa y.
Rượu Hồng Đào làm cho phụ nữ thêm yêu đời, cải thiên các chức năng tình cảm, tình dục và sinh sản
nếu ủ bằng men bia thì em uống được đó
nhẹ lắm, ngọt, thơm và có cái hậu chan chát rất đặc trưng
năm 2012 anh nấu thử mấy chục lít, bán cả triệu đồng / lít đó

Thanh Hà
Vậy hả
Anh có quá trời thứ để làm giàu.

Wambuakim : Không đâu em, anh nghiên cứu để khôi phục lại các tinh hoa của dân tộc và cung cấp không điều kiện cho nhân dân, một phần để họ làm giàu, một phần để góp phần bảo tồn văn hóa Việt, không chỉ trong ẩm thực.

Thanh Hà
Tốt cho sức khỏe ko uống đc nhiều thì uống ít thôi anh nhỉ

Wambuakim
ở khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận thì người ta còn dùng cách ép lấy dịch trái điều rồi ủ
rượu cũng có hương vị rất đặc trưng nhưng đậm lắm, uống không ngon. Người ta dùng làm thuốc uống chữa kiết lỵ, dạ dày v.v…
Sau này anh lập ra qui trình công nghệ ở cấp độ tiểu thủ công nghiệp nhằm phục vụ sản xuất rượu Hồng Đào qui mô vừa và lớn, có thể sản xuất quanh năm mà không sợ “đứt” nguồn nguyên liệu khi hết mùa trái điều.

Thanh Hà : Hả, hả ? Sao bây giờ anh mới nói ? nói cho em ghi đi.

Wambuakim : Thì từ từ rồi …. khoai cũng nhừ mà. Bây giờ anh phải làm việc rồi. Hẹn em và các bạn trong bài tiếp theo vậy.

Thanh Hà : Anh quỉ quái lắm đó nhen ….

Wambuakim. 05/6/2015.
Còn tiếp : “Sản Xuất rượu Hồng Đào qui mô tiểu thủ công nghiệp”

NGOẠI BÌ HỌC PHẦN I (DA HỌC I) – SKIN DISEASES THEORY

NGOẠI BÌ HỌC I (DA HỌC I) 

SKIN DISEASES THEORY

    A/. Đại cương về ngoại bì.

Ngoại bì còn gọi là da, thuộc một tạng của cơ thể (bì tạng), liên hệ mật thiết hữu cơ với hệ bài tiết, có nhiệm vụ bao bọc cơ thể, che chở cơ thể khỏi sự tác động, sự ảnh hưởng không có lợi của môi trường bên ngoài đối với cơ thể. Ngoài ra, chức năng chính của da còn để điều hòa, cảm nhận nhiệt độ, tổng hợp vitamin B và D. Da được coi là một trong những bộ phận quan trọng nhất của cơ thể. Diện tích bề mặt da người là khoảng 2 mét vuông.

Theo kiến thức Y học cổ điển từ thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XX, thì da người gồm ba lớp: lớp biểu bì, lớp bì và lớp mỡ dưới da. Nhưng theo bì học hiện đại thì da gồm 5 lớp, trong đó lần lượt là:

 

1- Lớp biểu bì : hình thái là một tầng sừng gồm có các tế bào đã chết, xếp sít nhau, rất dễ bong ra.

 

2- Lớp tế bào sống :gồm các tế bào có khả năng phân chia tạo thành tế bào mới, chứa các hạt sắc tố tạo nên màu da, một số tế bào sống phân hóa thành tế bào sinh lông và tế bào sinh móng.

 

3- Lớp collagen : là màng bán thấm cấu tạo bằng collagen, kết nối lớp tế bào sống với lớp bì ở phia dưới.Đó là một loại protein được tìm thấy nhiều nhất ở động vật có vú, đặc biệt trong các mô thịt, là thành phần chính của mô liên kết, chiếm khoảng 25% đến 35% protein cơ thể. Collagen dạng sợi dài, chủ yếu được tìm thấy trong các mô xơ như dây chằng, gân và da, và cũng có nhiều trong giác mạc, sụn, xương, mạch máu, ruột, và đĩa đệm.

* Nguyên bào sợi là tế bào phổ biến nhất tạo ra collagen. Collagen chiếm 1-2% của các mô cơ, và chiếm 6% trọng lượng của cơ bắp, cơ gân.

* Gelatin, được sử dụng trong thực phẩm và công nghiệp, là collagen đã được thủy phân một phần.

 

4- Lớp bì : được cấu tạo từ các sợi mô liên kết bền chặt, gồm các thụ quan,tuyến nhờn, tuyến mồ hôi, lông và bao lông, cơ co chân lông, mạch máu, dây thần kinh.

 

* Tuyến nhờn : Nhiệm vụ của tuyến nhờn là tiết chất nhờn, tạo thành một lớp chất nhờn bao phủ bề mặt da, giúp da mềm mịn, không bị thầm nước và hạn chế sự xâm nhập của vi khuẩn từ môi trường bên ngoài.

 

* Tuyến mồ hôi : tồn tại dạng chùm dưới da (nhiều nhất ở bàn tay, bàn chân, nách, háng, trán)có từ 2đến 3 triệu tuyến. Nhiệm vụ là tiết mồ hôi (là các chất thải bã được lọc từ máu ra), giúp điều hòa thân nhiệt cơ thể, làm nhiệt độ cơ thể giảm xuống nhiệt độ bình thường khi quá nóng. Muối lysozym có tính kháng khuẩn cao. Có hai loại tuyến mồ hôi là tuyến mồ hôi toàn vẹn và tuyến mồ hôi bán hủy.

 

* Lông và các phụ quan liên quan :

Lông gồm có:chân lông, bao lông, cơ co chân lông, cơ co chân lông có nhiệm vụ co lại mỗi khi trời lạnh, làm cho lông dựng đứng lên, che khít lỗ chân lông, không cho hơi ấm trong cơ thể bay ra không khí, như thế sẽ giữ ấm được cơ thể.

 

5- Lớp mỡ dưới da :

 

* Mô mỡ : Bảo vệ da khỏi những tác động cơ học, cách nhiệt, dự trữ năng lượng.

 

* Dây thần kinh : Giúp da nhận biết những kích thích từ môi trường.

 

* Mạch máu : Giúp da trao đổi chất với cơ thể bên ngoài.

       B/. Bệnh học về da – bệnh lý da.

 

I/. Nguyên nhân gây bệnh ngoại bì :

Các bệnh về da (da liễu) xảy ra rất phổ biến trong cuộc sống hàng ngày. Nguyên nhân là do:

– Tình trạng ô nhiễm môi trường toàn diện hiện nay –> hệ miễn dịch hoạt động kém, tê liệt hoặc hoạt động nhầm lẫn (tự miễn).

– Cơ thể bị nhiễm độc hoặc suy giảm hệ thích nghi –> dị ứng với đủ loại dị nguyên.

– Làm sạch ko đúng cách, sử dụng thức ăn nước uống quá dư thừa dầu mỡ.

– Môi trường sống ẩm thấp, hẹp, bụi bặm, hoặc chung đụng vật dụng kém vệ sinh.

– Nguồn nước sinh hoạt không đạt tiêu chuẩn.

– Bên cạnh đấy có một lượng ko nhỏ bệnh nhân bị viêm da do dùng mỹ phẩm hóa học độc hại, khi bị bệnh thì điều trị kiểu “ai xui gì làm nấy”, cũng có nguyên nhân dùng thuốc không theo chỉ định, dẫn đến những biến chứng vô lường.

II/. Phân loại bệnh ngoại bì :

Triệu chứng chung của bệnh ngoài da là đau, ngứa gãi ngoài da. Dựa theo nguyên nhân, chúng được phân theo 8 nhóm loại dưới đây :

 

1/. Nhóm bệnh ngoại bì do xâm nhiễm

 

1a/. Ghẻ ngứa: Là bệnh nhiễm ký sinh trùng da Sarcopte Scabiei,lây truyền trong gia đình, tập thể. Triệu chứng gồm: nổi mụn nước ở các kẽ tay, cổ tay, vùng bụng, bộ phận sinh dục, ngứa nhiều về ban đêm. Trong gia đình người bệnh thường có vài người mang biểu hiện tương tự.

 

1b/. Chốc lở: là bệnh nhiễm trùng nông ở da do vi khuẩn gây ra, chủ yếu xảy ra ở trẻ em. Biểu hiện của bệnh là những nốt mụn đỏ, sau đó vỡ ra, rỉ nước trong một vài ngày và đóng vảy, thường xuất hiện ở vùng mặt, nhất là quanh mũi và miệng. Bệnh rất dễ lây lan và thường lây trực tiếp từ vùng da bệnh đến vùng da lành trên cùng một trẻ, hoặc từ trẻ này sang trẻ khác, vì vậy bệnh còn được gọi là “chốc lây”. Chốc lở có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhưng 90% là các bé tuổi nhà trẻ, mẫu giáo. Trên thực tế phụ huynh rất hay nhầm lẫn giữa bệnh chốc lở và bệnh thủy đậu. Nếu được chẩn đoán sớm và xử trí đúng, bệnh chốc lở cải thiện nhanh, khỏi và không để lại sẹo; trường hợp ngược lại bệnh có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng.

Chốc lở được phân loại theo hình thái thương tổn: chốc có bọng nước và chốc không có bọng nước.

  1. Chốc có bọng nước

– Nguyên nhân: thường do tụ cầu gây ra.

– Thương tổn cơ bản:

  • Khởi đầu là dát đỏ kích thước từ 0,5-1cm, nhanh chóng tạo thành bọng nước trên đó.
  • Bọng nước nhăn nheo, xung quanh có quầng đỏ, sau vài giờ thành bọng mủ đục từ thấp lên cao.
  • Vài giờ hoặc vài ngày sau các bọng nước dập vỡ, đóng vảy tiết màu vàng nâu hoặc màu nâu nhạt giống màu mật ong.
  • Thương tổn khỏi không để lại sẹo.

– Vị trí thường gặp: ở mặt, vùng da hở, hoặc bất kì chỗ nào kể cả lòng bàn tay, bàn chân, không bao giờ xuất hiện ở niêm mạc. Tại vùng da đầu, vảy tiết có thể làm tóc bết lại.

– Biểu hiện toàn thân: viêm hạch lân cận, sốt rất hiếm gặp trừ khi chốc lan tỏa hoặc có biến chứng.

– Bệnh nhân có thể ngứa – gãi làm thương tổn lan rộng chàm hóa, lan sang vùng da khác.

  1. Chốc không có bọng nuớc

– Nguyên nhân: thường do liên cầu tan huyết nhóm A.

– Thương tổn ban đầu: mụn nước, mụn mủ nhưng dập trợt rất nhanh trên nền da đỏ, tiết dịch ẩm ướt nên không có bọng nước điển hình. Bờ thương tổn thường có ít vảy da trông giống như bệnh nấm da. Vảy tiết phía trên có màu vàng mật ong hoặc nâu sáng, với một quầng đỏ nhỏ bao quanh. Một số trường hợp có thể thấy các thương tổn vệ tinh ở xung quanh.

– Vị trí: hay gặp ở mặt, xung quanh hốc mũi, miệng hoặc tứ chi.

– Hình thái này thường gặp trên những trẻ bị viêm da cơ địa, ghẻ, hoặc một bệnh da nào đó kèm theo bội nhiễm, hầu như không gặp thương tổn ở niêm mạc.

– Bệnh thường khỏi sau 2-3 tuần, nhưng cũng có thể kéo dài, nhất là khi cơ thể có nhiễm ký sinh trùng, bị chàm hay thời tiết nóng, ẩm ướt.

 

1c/. Đốm đồi mồi và rám tàn nhang :

Điểm tàn nhang xuất hiện chủ yếu trên mặt nhưng cũng có thể ở nhiều nơi khác trên cơ thể, do tiếp xúc nhiều với ánh sáng cực tím (UV) từ ánh nắng mặt trời và (/hoặc) nhiễm độc từ thực phẩm, nước uống và khí thở. Việc sử dụng các loại đèn thuộc da (nhuộm da nâu) cũng có thể góp phần vào sự phát triển của các đốm đồi mồi. Đồi mồi và tàn nhang có thể xuất hiện ở bất cứ điềm nào trên cơ thể, ở mọi lứa tuổi và giới tính.

 

1d/. Viêm da tiết bã, gầu.

Viêm da tiết bã là một rối loạn da phổ biến chủ yếu ảnh hưởng tới da đầu, gây ra vảy, ngứa, da đỏ và gàu.

Đối với trẻ sơ sinh, viêm da tiết bã của da đầu được Y học ghi nhận như cradlecap. Ở thanh niên và người lớn, viêm da tiết bã gây ra gầu khô và gầu ướt, kết hợp nhiễm nấm gây ngứa, rựng tóc hàng loạt, tạo ra hiện tượng hói đầu.

2/. Nhóm bệnh ngoại bì do virus :

 

2a/. Mụn cóc (mụn cơm): Đây không phải là bệnh ung thư mà là do siêu vi trùng papillomavirus gây nên. Mọi người đều có thể bị mụn cơm trẻ em thường bị nhiều hơn người lớn. Mụn cơm có thể lan truyền từ phần này sang phần khác trong cơ thể hoặc lây từ người này hay người kia, tuy ít nguy hại nhưng dây dưa và khó trị dứt.

 

2b/. Thủy đậu : do một loại siêu vi mang tên varicella zoster virus gây ra. Bệnh này rất dễ lây truyền qua đường hô hấp và qua tiếp xúc dịch tiết. Khoảng 10 – 14 ngày sau khi xâm nhập vào cơ thể, người bệnh bắt đầu biểu hiện triệu chứng nhiễm thủy đậu. Trẻ nhỏ thường sốt nhẹ, biếng ăn còn người lớn bị sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Sau đó cơ thể sẽ bắt đầu nổi mụn nước ở vùng đầu mặt, chi và thân. Mụn nước có đường kính vài milimet. Nếu bị nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ. Sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn tiến nặng. Sau khi nốt đậu mọc thì thường người bệnh giảm sốt và tổn thương bóng nước khô dần rồi tự bong vẩy vài ngày sau đó nhưng để lại sẹo mờ trên da sau vài tuần mới hết hẳn. Thông thường bệnh diễn biến kéo dài khoảng 2 tuần.

Là bệnh siêu vi nên thủy đậu có thể phát sinh những biến chứng nguy hiểm nếu điều trị và dưỡng bệnh không đúng cách.

2c/. Bệnh zona: Bệnh có tên khoa học là Herpes zoster, bệnh do virút cùng loại vi-rút thuỷ đậu gây nên. Vi-rút này có tên là Varicella zoster. Bệnh zona có thể lây truyền từ người bị nhiễm sang trẻ em hay người lớn mà những người này trước đây không mắc bệnh thuỷ đậu. Zona là một loại bệnh cấp của hệ thần kinh trung ương, do virus nhiễm vào hạch của các rễ sau gây đau dây thần kinh rồi phát ban, nổi nốt phỏng nước cấp tính, có đặc điểm là nhsững thủy bào tụ thành hỡnh đai mọc theo đường dây thần kinh một bên người, kèm theo triệu chứng đau như lửa châm và các hạch bạch huyết ngoại vi sưng to, giống Herpes trên vùng da thuộc về dây thần kinh đó. Có biểu hiện viêm ở hạch đàng sau và đôi khi trong sừng sau của tủy. Nốt phỏng là do huyết thanh tiết dưới lớp sừng.

Dùng một số loại thuốc bôi mỡ kháng sinh, mỡ corticoid, mỡ kháng nấm. Dùng kết hợp với một số thảo dược như lá trầu không, sài đất, … Tuân thủ dùng thuốc đều dặn bệnh sẽ sớm khỏi.

2d/. Bệnh zona thần kinhlà bệnh gây ra bởi chủng virus cùng loại với virus gây bệnh thủy đậu. Sau khi khỏi bệnh thủy đậu thì virus thủy đậu không hề chết hoàn toàn mà một số trú ngụ tại các dây thần kinh trong trạng thái ngủ. Chờ điều kiện thuận lợi các virus này sẽ hoạt động trở lại gây viêm dây thần kinh biểu hiện ra bệnh zona thần kinh.

Triệu chứng của bệnh ngoài da này là các mụn nước nhỏ bằng hạt đậu xanh, sau đó các mụn nước này lan rộng và kiên kết thành từng mảng dải theo hướng đi của dây thần kinh, sau cùng gây loét và gây tổn thương trên da. Bệnh thường xuất hiện trên mặt, mí mắt, cổ, lưng,…

 

2e/. Bệnh lang ben là một bệnh ngoài da khá phổ biến, do virut Pityrosporum orbiculaire gây nên thường có biểu hiện xuất hiện một đốm hay một mảng có màu trắng thường không ngứa hay ngứa ít, nhưng khi ra nắng, đổ mồ hôi thì ngứa nhiều. Bệnh lang ben tùy thuộc khá nhiều vào việc vệ sinh da, sức đề kháng của cơ thể, phụ thuộc vào độ PH của da và cả độ ẩm của da. Cho nên có thể giải thích một số trường hợp trong một gia đình có người mắc bệnh lang ben nhưng người khác lại không mắc.

 

3/. Nhóm bệnh ngoại bì do nấm :

 

3a/. Nấm da : thủ phạm chính là do nhiều loại vi nấm từ môi trường, tiếp xúc lây nhiễm gây tác hại lên da. Vi nấm sinh sôi và phát triển trên da gây tổn thương thượng bì gây viêm. Nhận biết bệnh viêm nấm da dựa vào các dấu hiệu như ngứa da bứt dứt khó chịu, viêm loét, đỏ sưng. Bệnh thường xuất hiện vào thời điểm thời tiết, môi trường ẩm ướt, các vị trí trên cơ thể nơi ẩm ướt, nhiều mồ hôi.

Tổn thương do nấm da gây ra chủ yếu là nấm ở da đầu, nấm ngoài da, nấm đường sinh dục… Khi xác định được các loại vi nấm gây viêm thì sẽ dùng các thuốc để bôi hoặc uống để điều trị trị bệnh nấm da theo chỉ định của bác sĩ. Điều trị nấm da cần chú ý kiên trì điều trị dùng hết đợt liệu trị nhằm phòng ngừa nấm da tái phát trở lại.

 

3b/. Nấm da đùi (tinea cruris): là một bệnh nấm hay gặp xảy ra ở da vùng mặt trong đùi, mông và vùng sinh dục. Bệnh do nấm dermatophytes gây ra. Bệnh lây do dùng chung khăn, quần áo hoặc qua quan hệ tình dục với người nhiễm bệnh.

 

3c/. Nấm da đầu: Bệnh có tên gọi khác là bệnh Ecpet mảng tròn, là bệnh nhiễm nấm dưới chân tóc và dưới da. Nếu quan sát kỹ sẽ thấy nó biểu hiện bằng từng mảng tròn trắng, gây ngứa ngáy khó chịu. Bệnh này có khả năng lây qua đồ dùng nếu dùng chung như mũ, nón, lược.

 

3d/. Nấm kẽ chân: do các loài nấm Epidermophyton, Trichophyton gây nên. Tổn thương ban đầu bợt trắng hơi bong vảy, nổi một số mụn nước, ngứa nhiều, gãi trợt da, có nền đỏ, có khi viêm nề, sưng tấy do nhiễm khuẩn thứ phát, khi đó bệnh nhân có thể sốt, hạch bẹn sưng. Nấm có thể lan lên mu bàn chân, xuống mặt dưới bàn chân, đôi khi có mụn nước sâu dạng tổ dỉa ở lòng bàn chân .

 

3e/. Hắc lào: là một trong những bệnh nấm da có khả năng lây từ người này sang người khác trên diện rộng do sử dụng chung các đồ dùng sinh hoạt như quần, áo, khăn mặt, khăn tắm, ngủ chung giường, đắp chung chăn… Bệnh hắc lào do vi nấm gây ra gây ngứa ngáy, nổi mẩn đỏ trên da với các tổn thương có hình tròn như đồng tiền. Bệnh chủ yếu là do vệ sinh cơ thể không sạch sẽ, người ra nhiều mồ hôi nhưng ít được vệ sinh hoặc do tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, nước bẩn.

 

3f/.Ngứa phát ban do virus Herpes : nhiễm virus nhóm herpes B có thể tạo ra mề đay dị ứng diện rộng và lây lan rất nhanh, chủ yếu ở trẻ em.

———-Wambuakim———- (còn tiếp)

Xin xem tiếp NGOẠI BÌ HỌC II 

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 31 : BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

Hỏi : (Hoa Mặt Trời)

Em chào thầy.

Em được người quen giới thiệu thầy.

Thầy có thể tư vấn giúp em bệnh sốt xuất huyết.

Em của e đang ở bệnh viện sốt xuất huyết làm tăng men gan và rối loạn tiêu hóa. Đã xuất ban dưới da nhưng vẫn còn sốt và mệt vật vả, không ăn uống gì được.

Cảm ơn thầy, nếu không phải thì cho em xin lỗi vì đã làm phiền.

Trả lời : (Wambuakim)

Sốt xuất huyết là bệnh do virus Dengue lây truyền do muỗi vằn mang đi chích vào người gây ra. Tuy khá nguy hiểm nhưng bệnh sốt xuất huyết khá dễ phòng dễ chữa. Bệnh sốt xuất huyết dạng nhẹ sẽ gây sốt cao, phát ban, đau cơ và khớp. Bệnh sốt xuất huyết dạng nặng có thể gây chảy máu nặng, giảm huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.

Tác động bệnh học của sốt xuất huyết là :

(i)Tiểu cầu giảm +

(ii)Suy giảm chức năng gan +

(iii)Giảm tổng hợp các yếu tố đông máu.

Do đó thành mạch bị tổn thương và tăng tính thấm gây xuất huyết dưới da.

Nhiễm virus Dengue có xuất huyết và có sốc là do tái nhiễm virus Dengue khác type và do đáp ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể (HalStead SB).

Vì vậy, tình trạng “sốt và mệt, tăng men gan và rối loạn tiêu hóa” hiện nay của em ấy là do suy giảm chức năng gan (và có thể có viêm gan) do độc lực mạnh của một chủng Serotype Dengue gây nên.

Việc sốt thì kéo dài là do virus Dengue sinh sản trong bạch cầu đơn nhân, dẫn đến :

+ Giải phóng các chất trung gian vận mạch (Anaphylatoxin, Histamin, Kinin, Serotonin…)

+ Kích hoạt bổ thể

+ Giải phóng Thromboplastin tổ chức

+ Thành mạch tăng tính thấm, dịch từ trong lòng mạch thoát ra ngoài gian bào, hậu quả là giảm khối lượng máu lưu hành, thậm chí dẫn đến sốc nhiệt có thể gây tử vong đột ngột.

———————

Bệnh sốt xuất huyết là một vấn đề khá cũ, đã được Wambuakim viết từ năm 2012 với nội dung gồm 5 nhóm vấn đề :

(1)Bệnh lý sốt xuất huyết,

(2)Nguyên nhân gây bệnh sốt xuất huyết,

(3)Biến chứng và bệnh cảnh tăng nặng của bệnh sốt xuất huyết,

(4)Phòng chống và chữa trị bệnh sốt xuất huyết,

(5)Bài thuốc đặc hiệu diệt virus Dengue (gây bệnh sốt xuất huyết) và virus Zika (gây bệnh em bé đầu to).

Với nội dung khá hạn chế trong câu hỏi của Hoa Mặt Trời, Wambuakim chỉ tóm tắt thành một : Dược pháp chữa bệnh Sốt Xuất Huyết của Y Dược Học Lượng Tử. trình bày dưới đây.

Y Dược Học Lượng Tử có dược trình riêng, trị dứt điểm Virus Dengue chỉ trong 7 ngày từ khi phát hiện bệnh. Dược pháp :

– Bảo vệ thành mạch + Zika (viên) + Kích ứng (da). Mỗi thứ 100g, uống ngày 5 lần / lần 30 đến 35 viên trong 7 ngày.

– Hỗ trợ đề kháng biến chứng : Zika dạng sirop 4 chai / ngày 1/2 chai pha thành 1 lít nước nóng, chia uống trong ngày.

====Bài thuốc Sirop Zika (dạng lỏng) dưới đây đã được thực hiện và phát miễn phí cho đồng bào Hà Nội năm 2017, kịp thời giải cứu hàng trăm ca bệnh Sốt Xuất Huyết, và được người dân đánh giá là Thần Kỳ====

Bài thuốc sirop Zika cơ sở

Nguyên liệu :

1/. Cỏ mực 20g.

2/. cam thảo 10g,

3/. Đinh lăng 10g,

4/. Chùm bao 10g,

5/. Tần dày lá 15g,

6/. Rau ngổ 15g,

7/. Mật ong 10g,

8/. Đường 10g.

Cách làm :

– 1 dến 6 xay nhuyễn với chút nước, vắt lấy nước.

– 7 và 8 trộn vào.

– Hỗn hợp ũ 70 độ C trong 2 đến 3 giờ bằng năng lượng mặt trời (ở nhà thì đun cách thủy nhỏ lửa trong 40 phút)

– Lắng – lọc bỏ cặn để thu Sirop Zika. Vào chai bằng kỹ thuật vô trùng.

————————–

Antivirus Version :

– Bài thuốc trên gia thêm xạ đen 15g, dấp cá 15g và gừng tươi 3 lát (12g), chế biến như trên, là bài thuốc trị sốt xuất huyết (và các bệnh nhiễm Virus khác).

– Ho nhiều thì cho thêm tắc 1 trái, lá bạc hà 12g và tỏi 1 củ nhỏ (15g).

——–Wambuakim———

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 25 : PHẢN BIỆN VI LƯỢNG ĐỒNG CĂN

Hỏi : Châu Vân (Quy Nhơn)

Tôi kết bạn với thầy vì thấy thầy có nói đến vi lượng đồng căn

Tôi tên là Châu Vân, ở Quy Nhơn.

Rất vui được giao lưu, học hỏi với Thầy ạ

Trả lời : Wambuakim

OK Vân, Thầy chưa từng từ chối sự học hỏi của người trẻ bao giờ

Châu Vân

Cảm ơn thầy

————————-

MỞ RỘNG VẤN ĐỀ VI LƯỢNG ĐỒNG CĂN

Wambuakim

Vi lượng đồng căn được sử dụng để điều trị các bệnh mãn tính, chẳng hạn như viêm da dị ứng, viêm khớp dạng thấp và hội chứng ruột kích thích. Nó cũng có thể dùng điều trị các chấn thương nhỏ như vết cắt, vết trầy xước và căng cơ hoặc bong gân. Tuy nhiên, liệu pháp vi lượng đồng căn không dùng để điều trị các bệnh nghiêm trọng như ung thư, bệnh tim, nhiễm trùng nặng hoặc cấp cứu.

Thực chất là Vi Lượng Đồng Căn biểu thị cho sự bế tắc về Y Học đối với những bệnh mãn và thường được gọi là bệnh “vô căn”.

Châu Vân

Dạ

Thầy nghiên cứu nhiều về nó ạ

Thật ra em cũng đang sử dụng aroma therapy, để hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho gia đình và nhóm cộng đồng

Cũng rất thích

Wambuakim

Với Y Dược Học Lượng Tử thì không có bất cứ mảng nào của bệnh học là không thể chữa trị. Cho nên Vi Lượng Đồng Căn chỉ là thứ phải nghiên cứu để biết rõ sự bế tắc và dốt nát của nhân loại nằm ở đâu, để qua đó mà cứu nhân dân trước bọn Lang Băm Xã Hội.

Châu Vận

Tại sao thầy lại quan tâm đến điều đó

Tại sao nó lại quan trọng

Wambuakim

Không chỉ Thầy quan tâm, mà đó là sự quan tâm chung của Y Dược Học Lượng Tử

Vì bọn “lang băm Xã Hội” đang lừa mị nhân dân để kiếm tiền một cách vô nhân đạo, mà Vi Lượng Đồng Căn là thứ chỉ có tác dụng mơ hồ và không có Thống kê Y Học rõ rệt.

Châu Vân

Sao thầy nghĩ vậy

Mỗi thời kỳ lịch sử y học có những vai trò riêng

Ngay cả ở Mỹ nơi bắt nguồn của vi lượng đồng căn, cũng coi vi lượng đồng căn là 1 nhánh của y học tổng thể

Wambuakim

vấn đề của Y Học là phải có thống kê Webster

ai “coi” thì mặc kệ họ. Khoa học là phải có xác minh Thuần lý. Y Học Mỹ “có là cái gì” so với Y Dược Học Lượng Tử đâu nào ?

Châu Vân

Dạ

Chưa hiểu ” xác minh thuần lý” là gì ạ

Wambuakim

Vi Lượng Đồng Căn bế tắc về cơ sở Y Học và không có cơ bản nào về phương pháp luận Y Học.

Châu Vân

Vậy khi dùng vi lượng đồng căn thì mình dùng cái gì để trị bệnh ạ

Wambuakim

Hic, không biết bất cứ cái cơ sở Khoa Học / Y Học nào về Vi Lượng Đồng Căn (mà bản thân nó cũng chẳng có) mà đã sử dụng nó, thì quả thật là giết người không gươm giáo, là sự lừa mình dối người trắng trợn.

Vậy thì tìm hiểu nó (Vi Lượng Đồng Căn) một chút vậy.

Vi lượng đồng căn hay vi lượng đồng căn liệu pháp (tiếng Anh: Homeopathy, ghép từ tiếng Hy Lạp: ὅμοιος hómoios, ‘tương tự’ và πάθος páthos, ‘sự đau đớn) là một giải pháp “không có phương pháp luận y học” thay thế để điều trị bệnh nhân bị mắc một bệnh nào đó bằng cách sử dụng những chế phẩm được pha loãng mà những chế phẩm này cũng gây ra các triệu chứng cho một người bình thường giống như là triệu chứng của chính căn bệnh cần chữa gây ra. Những bằng chứng khoa học gần đây nhất cho thấy vi lượng đồng căn chỉ là một giả dược nhằm làm yên lòng bệnh nhân chứ nó không có tác dụng chữa trị.

——————-

Trong vi lượng đồng căn liệu pháp, thuật ngữ phương thuốc (tiếng Anh: remedy) được hiểu là một chất đã được pha chế với một quy trình cụ thể và dự định cho bệnh nhân sử dụng, chứ nó không có nghĩa là “một loại thuốc hay một liệu pháp chữa bệnh” (theo Wikipedia)

Nguyên tắc cơ bản của vi lượng đồng căn là “quy luật của những mối tương đồng” (law of similars) nghĩa là “hãy để cho những thứ giống nhau chữa cho nhau” (“let like be cured by like”). Phát biểu mơ hồ này do bác sĩ người Đức Samuel Hahnemann đưa ra lần đầu tiên vào năm 1796, đó chỉ là một lời khẳng định không được chứng minh, và không phải là một quy luật thực sự của tự nhiên dựa trên cơ sở của phương pháp khoa học.

Những đánh giá có hệ thống từ các thử nghiệm đã được công bố không chứng minh được hiệu quả của vi lượng đồng căn. Hơn nữa, những thử nghiệm chất lượng cao hơn có xu hướng cho ra các kết quả ít tích cực, và hầu hết các nghiên cứu tích cực đã không được thực hiện lại và sự bế tác về phương pháp luận đã làm ngăn cản việc cân nhắc những bằng chứng hiệu quả rõ ràng của liệu pháp vi lượng đồng căn.

Châu Vân

Vậy thì ai tin thì theo thôi đúng ko thầy

Wambuakim

Nói “ai tin thì theo thôi” cần phải nhận thấy, đó là tin vào cái “không có cơ sở và phương pháp luận Y Học”, rồi theo cái “không có cơ sở và phương pháp luận Y Học” đó chứ gì ?

vậy thì đồng nghĩa với ĐI CHẾT Đi

Câu nói “ai tin thì theo thôi” mang vấn đề nội tại là TIN VÀO CÁI GÌ

và từ đó có câu hỏi qui nạp để mở rộng nhận thức : THEO CÁI GÌ.

Nói tóm lại, Vi Lượng Đồng Căn chỉ là một trò lừa minh dối người không hơn không kém. FDA đã cấm tuyệt đối liệu pháp vi lượng đồng căn.

-tham khảo Wikipedia : Vi Lượng Đồng Căn-

https://motthegioi.vn/suc-khoe-c-84/chau-au-bac-bo-lieu-phap-vi-luong-dong-can-72275.html?fbclid=IwAR0CpfL7RrcijXIYA3NqwHRue6MUz2YMnieFQ5Ts_YlyKZIDwCEVT-qsNaw

———-Wambuakim———

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 23 : CHÀM SỮA và CHÀM THỂ TẠNG

(bài mang sang từ Fanpage Lớp Học Của Bác Kim

8 tháng 7, 2015 – Có bổ sung chi tiết)

HỎI : (bỉm sữa)

… bé nhà con 5 tháng tuổi nặng 8,7kg, cao 72cm nuôi bằng sữa mẹ từ nhỏ,khỏe mạnh nhanh nhẹn, duy chỉ bị cái mặt trời nóng hay bị nổi chàm sữa, tụi con cho tắm rau kinh giới, trà xanh, khổ hoa, dấp cá,… để cho mát mà vẫn tái lại, con có xem tài liệu trên mạng thì tới gần 2 tuổi mới khỏi hẳn vậy thì lâu quá, nay con biết được bác, bác cho con hỏi có cách gì trị dứt luôn không?

ĐÁP : (Wambuakim)

Chàm sữa có nguyên nhân di truyền thể tạng dị ứng (hen phế quản, viêm mũi dị ứng, mề đay, dị ứng da, dị ứng thời tiết, chàm thể tạng …) và được xem là thể tiên phát của chàm thể tạng. Tây Y đến nay vẫn chưa biết nguyên nhân của chàm sữa, chỉ chữa triệu chứng mà thôi, và cho rằng trẻ đến 2 tuổi trở lên sẽ hết. Nhưng thật ra chàm sữa vẫn âm thầm diễn biến nội tại để trở thành chàm thể tạng ở tuổi thành niên và người lớn tuổi sau này. Do đó cách chữa mò “theo kiểu lang băm” của Tây Y không những không hiệu quả mà còn chứa nguy hiểm tiềm tàng cho cả cuộc đời Bé.

KIÊNG CỮ : Quan trọng nhất với em bé bị chàm sữa là kiêng thực phẩm lên men, trứng, đậu phộng, cà chua, đồ biển….ống nhiều nước, có chế độ ăn hợp lý. Tránh các tác nhân dị ứng như bụi bặm, phấn hoa, nấm mốc, bụi, ve, bọ chét, lông chó/mèo…người hôn hít v.v…. Không mặc quần áo chật và kín khí (không thóang), các loại y phục bằng vải cứng, vải nylon, vải có màu sắc sặc sỡ….. dễ đổ và ủ mồ hôi, khăn tắm phải mềm mại và lau nhẹ nhàng. Bao tay thường xuyên cho bé tránh gãi gây bội nhiễm và tích cực giữ ẩm cho da bé (có thể dùng máy cấp ẩm siêu âm liều lượng vừa đủ). Sữa tắm phải dùng loại dịu nhẹ, tuyệt đối không dùng kháng sinh hay chất chống viêm để tránh gây di chứng hủy hoại tuyến thượng thận, thận, gan và tụy tạng về sau.

CHỮA TRỊ CHÀM SỮA:

Chữa trị chàm sữa cần sử dụng cùng lúc hai liệu pháp :

1/. Bôi thuốc chống ngứa, giảm dị ứng ngoại bì :Bài thuốc bao gồm:

Lá cúc tần, cây cam nha,, nha đam, sài đất, phượng vĩ, tía tô, lá rưới, rau má đề, ké đầu ngựa, râu ngô, sắn dây, đinh lăng (lá hay cây, dây), dầu dừa nguyên chất mỗi thứ cây lá một nắm nhỏ hoặc định lượng 25g.

Bài thuốc tuy có hơi nhiều vị nhưng tất cả rất dễ tìm.

Tất cả rửa sạch, rang vàng hạ thổ, rồi cho vào máy sinh tố xay nhuyễn, thêm một chén (bát) nước rồi hấp cách thủy trong 30 ph. Cuối cùng đổ ra vải sạch, tán và vắt (chắt) được hai chén (bát) nước dạng GEL (kem), dự trữ dùng dần.

Mỗi ngày lấy một muỗng cà phê thuốc hơ nóng, thấm bông gòn mịn thoa thuốc này cho bé từ 3 đến 6 lần tùy theo thới gian họat động của bé. Chỉ sau 10 đến 15 ngày thì các mẩn lặn dần nhưng phải dùng thuốc tiếp ít nhất một tháng. Trong thời gian dùng thuốc bé sẽ không ngứa ngày khó chịu.

Nuôi con bằng sữa mẹ thì mẹ và bé (nhất là bé) đều cần kiêng gió, tránh thịt gà, cá gáy, cua đồng, mắm tôm, thịt ếch, trứng vịt, trứng gà v.v… Mẹ cũng cần bôi thuốc vào những chỗ mẩn ngứa để tránh hai mẹ con lây qua lây lại.

2/. Mẹ bé uống thuốc chống dị ứng tòan thân : Bài thuốc gồm các vị :

Ké đầu ngựa 15g, kinh giới huệ (dùng bông / hoa) 10g, muồng trâu 10g, cỏ mần trầu 15g, bạc hà 10g, cam thảo đất 10g, cây cứt lợn 10g, bèo tai tượng 10g, nghể bà 10g.

Rửa sạch, sắc ba nước như nhau : ba chén còn 1 chén. Mẹ uống làm ba lần trong ngày.. Nếu bé thôi bú hoặc lớn hơn 2 tuổi thì có thể uống trực tiếp làm nhiều lần, vị thuốc cũng dễ uống. Nếu phát hiện (mẹ hay bé) có chấy thì văt nước một trái chanh tươi + một muỗng dầu cây thầu dầu để gội và matxa da đầu vì chấy rận cũng là một trong những nguyên nhân lây lan chàm sữa.

Bài thuốc không những trị dứt chám sữa mà còn cắt đứt chàm cơ địa, chàm thể tạng khi bé trở thành người lớn. Dược pháp trên đây hiệu quả từ ngàn xưa đến nay, là vốn quý của dân tộc Việt Nam, cần được sử dụng và phát huy để bảo vệ giống nòi và dương danh với thế giới.

Chúc Bé chóng khỏi bệnh, gia đình hạnh phúc yên vui, làm ăn phát đạt.

——————–

Dược Pháp Y Dược Học Lượng Tử:

Hiện nay, Y Dược Học Lượng Tử sử dụng Dược Pháp hiện đại điều trị Chàm sữa và chống Chàm Thể tạng như sau :

– Kích ứng (da) + Viêm (da – đa tạng) + Zika (viên) + Phế quản. Mỗi thứ 100g ; uống ngày 3 đến 5 lần.

Cách dùng : Mẹ uống lần 25 viên, bé tiếp nhận thuốc qua sữa mẹ. Nếu bé đã uống được thuốc thì thủy phân thuốc + tách lấy nước cho uống 5 đến 10 viên / lần.

– Combo Bơ 20% Fucid bôi chàm. Ngày 2 đến 3 lần.

—————-

Wambuakim

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 22c : NGUY HIỂM KHI CHƠI VỚT MẬT MÃ GEN

Trần Thanh Hà (hỏi) :

Sư Phụ ơi, hiện nay hình như đã có thuốc điều trị Covid 19, đó là thuốc làm tê liệt enzym RNA polymerase. Khi tiêm vào bệnh nhân, bệnh nhân phục hồi rất nhanh.

Vậy làm tê liệt enzym Polymerase RNA thì có để lại đi chứng hay hậu quả gì về sau ko ạ?

Em cảm ơn Sư Phụ nhiều ạ

Wambuakim (trả lời) :

Nhận được câu hỏi, vốn dĩ Thầy muốn trả lời ngay nhưng phải chờ thông tin chính xác từ Mỹ và châu Âu phản hồi nên đành phải bắt các bạn chờ lâu “một chút”.


1/. Bản chất sinh học của enzym Polymerase RNA :

a/. RNA polymerase (thường được gọi trong tiếng Việt là ARN pôlymêraza) là một loại enzym chuyên xúc tác quá trình tổng hợp các loại phân tử ARN từ gen. ARN Polymerase còn được gọi tên theo chức năng của nó là enzym phiên mã.

b/. ARN Polymerase có khả năng nhận biết gen khuôn mẫu tương ứng, gắn vào vùng điều hoà của gen này và tiến hành phiên mã.

Sau khi đã gắn vào vùng điều hoà của gen, ARN Polymerase có khả năng chuyển đổi trình tự poliđesoxi-ribonucleotitc (AND / poly DRN) thành trình tự chuỗi ribonucleotic (poly RN) mang mã phiên, từ đó dịch mã mới tiến hành được.

c/. Phiên mã :

Phiên mã là quá trình tổng hợp ARN. Thuật ngữ này dịch từ nguyên gốc tiếng Anh transcription, gọi theo thuật ngữ cũ là sao mã, nay đã thống nhất dịch là phiên mã

Sự tổng hợp (tạo thành) hoặc phân giải (loại bỏ) enzym ARN Polymerase có liên quan đến biểu hiện gen.

2/. Biểu hiện gen :

Biểu hiện gen là quá trình chuyển đổi thông tin di truyền chứa trong gen thành sản phẩm trong tế bào sống, từ đó tính trạng tương ứng được tạo thành ở kiểu hình có thể quan sát được. Khái niệm này được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh: gene expression.

Ví dụ : bệnh Alzheimer (mất trí nhớ) ở người do gen trội gây ra, nhưng người mang gen trội gây bệnh này thì còn hồi trẻ thì gen này chưa biểu hiện, mãi đến 60 tuổi mới thấy bệnh phát ra.

Biểu hiện gen là quá trình rất phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó có tác động của các gen khác, của môi trường trong (nội môi) và môi trường ngoài (ngoại cảnh). Tuy nhiên, ở mức độ đơn giản quá trình biểu hiện gen trải qua 3 giai đoạn chính ở cả sinh vật nhân sơ (vi khuẩn) và sinh vật nhân chuẩn (đa bào).

a/. Phiên mã: Gen tổng hợp ra ARN.

b/. Dịch mã: Mã phiên ở ARN được chuyển đổi thành chuỗi pôlypeptit.

c/. Tạo thành và hoạt động của các prôtêin chức năng.

3/. Quá trình Biểu Hiện Gen :

Biểu hiện Gen chỉ thật sự tiến hành khi có tối thiểu các nhân tố sau cùng tham gia:

a/. Xử lý ARN

Là giai đoạn chỉ diễn ra ở sinh vật nhân chuẩn, bao gồm các sự kiện:

– Gắn mũ (capping),

– Ghép mảnh (splicing) và

– Thêm đuôi polyA.

Trong đó quá trình thêm đuôi polyA liên quan mật thiết với việc kết thúc phiên mã. Tác dụng của việc gắn đuôi polyA cho mARN để giúp mARN không bị thủy phân bởi enzim khi di chuyển từ nhân ra tế bào chất để thực hiện dịch mã tổng hợp protein.

b/. Dịch mã

Dịch mã là sự tổng hợp của 1 polypeptide sử dụng thông tin trong mARN.

4/. Các kiểu biểu hiện gen :

Phần lớn thuật ngữ được dùng để miêu tả các mô hình của sự biểu hiện gen, bao gồm:

a/. Gen cấu trúc là một gen được phiên mã liên tục khi so sánh với gen tùy ý chỉ được dịch mã khi cần thiết.

b/. Gen giữ nhà (housekeeping gene) là một gen cấu trúc điển hình, được phiên mã ở một mức độ tương đối liên tục. Những sản phẩm từ sự phiên mã các gen này cần cho sự duy trì sự sống tế bào. Có thể nói là sự biểu hiện của chúng không bị ảnh hưởng bởi những điều kiện thí nghiệm. Ví dụ như actin, GAPDH và ubiquitin.

c/. Gen tuỳ ý là gen chỉ được phiên mã khi cần so sánh với gen cấu thành.

d/. Gen cảm ứng là gen mà sự biểu hiện của nó nhằm đáp ứng với những thay đổi của môi trường hay phụ thuộc vào từng trạng thái trong chu kỳ tế bào.

5/. Điều tiết biểu hiện gen :

Điều tiết biểu hiện gen là sự điều khiển tế bào về mặt số lượng và thời gian xuất hiện của các hàm chức năng của một gen. Bất kì giai đoạn nào trong biểu hiện gen cũng có thể được điều hòa, từ giai đoạn sao mã ADN-ARN đến giai đoạn biến đổi hậu phiên dịch của một protein. Điều hòa gen điều khiển tế bào về mặt cấu trúc và chức năng, và là cơ sở cho sự phân dị tế bào, đồng hình di truyền và sự linh hoạt và thích nghi của bất cứ sinh vật nào.

Do chưa có khả năng giải mật mã Gen người, cho nên sự chủ động biểu hiện Gen và điều tiết biểu hiện Gen vẫn còn là một giấc mơ của nhân loại.

6/. Nguy hiểm trong trò chơi với mật mã Gen :

Qua những dữ liệu và phân tích trên, các bạn có thể hiểu rằng trò chơi với biểu hiện Gen đã nguy hiểm đến thế nào, và trò chơi với mật mã Gen càng chứa đựng nguy hiểm triệu triệu lần hơn. Xin hãy dừng lại tất cả những trò chơi có nguy cơ hủy diệt toàn bộ sự sống hành tình, không chỉ là nhân loại yếu hèn.

7/. Đối với Virus Corona “mới”, khoa học kỹ thuật máy tính hiện đại đã tìm ra (và xác định) 77 chất liệu hóa sinh và dược pháp (với khoảng 265 combo dược chất) có thể tiêu diệt nó, không chỉ là thuốc remdesivir (mà không cần dùng đến trò chơi nguy hiểm của Enzim Polymerase RNA. Xin xem : SUMMIT, SIÊU MÁY TÍNH MẠNH NHẤT THẾ GIỚI XÁC ĐỊNH ĐƯỢC CÁC HOẠT CHẤT CÓ THỂ NGĂN CHẶN VIRUS CORONA (Covid-19) / Lớp Học Của Bác Kim / 29/3/2020).

Remdesivir có thể thỏa mãn tạm thời việc ngăn chặn Corona nhưng âm thầm dung chứa bên trong nó nguy cơ hủy diệt sự sống trên địa cầu sau 50 – 75 năm nữa..

8/. Nước Đức đã âm thầm sử dụng 26 dược pháp từ Viện Y Dược Học Lượng Tử Đức mà không công bố ra thế giới để bảo vệ công dân của nước mình từ trước những ngày bùng lên đám cháy China’s Wuhan Corona. Nhân dân Đức ra đường tự do giao thiệp mà chưa bao giờ cần đến cảnh báo khẩu trang toàn dân vừa ồn ào, vừa kệch cỡm vừa … kinh dị.

——————

Tóm lại, câu hỏi này cũng đơn giản và dễ hiểu như … chính bản thân Remdesivir. Mong các bạn sáng suốt nhận định để không phải lo âu hay bối rối không đáng.

———–Wambuakim————

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 22b : BÀI THUỐC PHÒNG VÀ TRỊ VIÊM PHỔI DO VIRUS CORONA

1/. Virus corona:

Coronavirus, cũng được gọi là virus corona, là một nhóm gồm các loại virus thuộc phân họ Coronavirinae trong Họ Coronaviridae, theo Bộ Nidovirales. Coronavirus gây bệnh ở các loài động vật có vú, bao gồm cả con người và chim. Ở người, virus gây nhiễm trùng đường hô hấp thường là nhẹ nhưng trong trường hợp ít gặp có thể gây tử vong.

Coronavirus là virus bao bọc với hệ gen (ARN) sợi đơn chiều dương và với một nucleocapsid đối xứng xoắn ốc. Kích thước bộ gen của coronavirus khoảng từ 26 đến 32 kilo base pair, lớn nhất đối với virus RNA.

Tên “coronavirus” có nguồn gốc từ tiếng Latin *corona*, có nghĩa là vương miện hoặc hào quang, và đề cập đến sự xuất hiện đặc trưng của virion dưới kính hiển vi điện tử

(E. M.) với một rìa lớn, tạo thành một hình ảnh như vương miện hoàng gia hoặc vành nhật hoa. Hình thái học này được tạo ra bởi các peplomers tăng đột biến của virus, là các protein cư trú trên bề mặt của virus và xác định ái vật chủ.

Protein đóng góp vào cấu trúc tổng thể của tất cả các coronavirus là spike (S), envelope (E), membrane (M) và nucleocapsid (N)). Trong trường hợp cụ thể của coronavirus SARS, một miền liên kết thụ thể xác định trên S làm trung gian sự gắn kết của virus với thụ thể tế bào của nó, enzyme chuyển đổi angiotensin 2 (ACE2).). Siêu vi khuẩn coronavirus (đặc biệt là các thành viên của nhóm con Betacoronavirus A) cũng có một loại protein giống như gai ngắn hơn gọi là hemagglutinin esterase (ANH).

Coronavirus thường gây ra các triệu chứng cảm lạnh thông thường, nhiễm trùng mũi, xoang hoặc cổ họng và lây lan qua hắt hơi, ho. Tuy nhiên, nó có thể dẫn đến các bệnh hô hấp nghiêm trọng hơn ví dụ như [Hội chứng hô hấp cấp tính nặng] (SARS) và gây tử vong.

2/. BÀI THUỐC PHÒNG VÀ TRỊ VIÊM PHỔI CORONA 

Bài thuốc có tên là thuốc ZIKA SPEC phòng và chống chứng viêm phổi nguy hiểm do virus Corona :

a/. Dược liệu :

– Sâm đại hành 15g

– Đương quy 15g,

– Cỏ mực 35g

– Bạc hà (thân và lá) 30g

– Cỏ mần chầu 25 – 30g

– Hương thảo 15g (hay lá tía tô) 35g

– Bột quế 15g – 20g

– Cam thảo 25g – 30g

– Đinh lăng 35g.

b/. Cách làm :

Cách làm 1 : (dạng viên)

– Các vị thuốc tươi nấu 70 độ trong 25 ph đến 30 ph rồi xay nghiền, nấu lấy nước theo chu trình phòng chống vi sinh.

– Các vị thuốc khô xay bột. Dùng bột áo làm hồ với nước thuốc tươi + bột khô để vo viên 6 mm

Cách làm 2 : (dạng sirop / nước).

– Các vị thuốc tươi nấu + xay nghiền + vắt lấy nước.

– Các vị thuốc khô sắc (nấu) riêng với 200% trọng lượng nước.

Hai phần nước trộn nhau nấu thanh trùng, vô chai 250 ml.

c/. Cách dùng :

– Thuốc viên hoặc thuốc nước đều uống theo liều tiêu chuẩn (với nhiều nước ấm 50 độ – 60 độ).

– Thuốc nước dùng Bertholet (bình xịt dạng nước hoa) phun lớp mỏng lên khẩu trang rồi mang để diệt Corona tiến nhập hô hấp. Nhớ phối hợp với kính mắt vì Corona có thể lây nhiễm qua mắt.

– Dùng một phần Zika Spec (dạng lỏng) khoảng 1 – 2 muỗng canh pha vào 1 thùng nước tắm 20 lít (mà không xối lại) để phòng ngừa Corona xâm nhập qua da.

3/. Hỗ trợ cho dược pháp Zika Spec :

Zika Spec không phải là phương tiện vạn năng để chống lại Virus Corona, nên cần hỗ trợ nó trong việc giải trừ các nguy cơ mà Corona Virus có thể gây ra :

– Đeo kiếng mắt** phòng chống Coronavirus xâm nhập qua niêm mạc mắt, vì khẩu trang tẩm Zika Spec không che được mắt.

– Giảm tiếp xúc, đeo găng tay và rửa tay khi tiếp xúc với đồ vật có nguồn gốc lạ, đồ vật qua tay nhiều người dùng, thì Coronavirus có thể xâm nhập qua da tuy Zika Spec đã giảm nguy cơ lây nhiễm Coronavirus qua tiếp xúc.

– An toàn tình dục trong tiếp xúc tình dục, tránh giao tiếp tình dục với bạn tình không rõ gốc gác hoặc người đã đi qua vùng dịch. Vì Coronavirus có cơ chế xâm nhập và tác động suy giảm miễn dịch tương tự HIV.

– Tránh mất nước, uống nước đầy đủ để khỏi bị nhiễm bệnh và ủ bệnh từ những ổ viêm nhiễm trong vòm họng và họng. Tránh ăn uống nơi đông người, nơi ô nhiễm và có khả năng phát tán dịch. Vì Coronavirus có khả năng xâm nhập qua đường tiêu hóa.

——————

Bổ sung :

LIỀU DÙNG TIÊU CHUẨN CỦA ZIKA SPEC :

1/. Liều phòng bệnh bằng 40% liều chữa bệnh

2/, Liêu chữa bệnh bằng 70% liều tấn công

3/. Liều tấn công là 2 muỗng canh mỗi ngày dùng cho 10 Kg cân nặng.

Đã theo tiêu chuẩn cân nặng thì ko đề cập đến tuổi nữa

==============

——- Wambuakim ——-

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 16 : VIÊM CO THẮT PHẾ QUẢN DỊ ỨNG.

HỎI : Lê Minh

Con chào chú ạ! Chú cho con hỏi Ba con bị co thắt phế quản, cứ mỗi lần giao mùa là Ba con bị khó thở, phải dùng dung dịch khí rung mới thở được, bệnh này có chữa dứt điểm được không ạ? Qua đợt giao mùa hoặc thay đổi thời tiết thì lại bình thường ạ. Con cảm ơn chú!!

TRẢ LỜI : Wambuakim

– Qua mô tả sơ sài như thế thì có thể sơ chẩn bệnh của Ba cháu là VIÊM CO THẮT PHẾ QUẢN DỊ ỨNG.

– Bệnh này gây ra tình trạng toàn bộ đường ống dẫn khí từ khí quản vào phổi bị viêm nhiễm –> lòng phế quản bị thu hẹp do phù nề, co thắt các cơ phế quản. Tình trạng viêm nhiễm kéo dài khiến phế quản bị sưng, phù nề gây co thắt, bó hẹp đường thở, quá trình lưu thông khí trong phổi bị cản trở do tăng bài tiết chất nhầy. Do đó người bệnh thường ho khạc đờm, thở rít, thở khò khè hoặc khó thở.

– Trong điều kiện vệ sinh Y Học không tốt hoặc thời gian kéo dài, bệnh có thể lây lan toàn bộ cấu trúc phổi, gây ra các biến chứng bất lợi và có thể gây nguy hiểm sâu rộng, trong đó có liên quan đến một bệnh nguy hiểm là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính..

– Cần phải nghe mạch chi tiết để xác định nguyên nhân gây VIÊM CO THẮT PHẾ QUẢN DỊ ỨNG thì mới chữa dứt được bệnh. Kiểu chữa “chắp vá” mù quáng theo kiểu sốt thì dùng thuốc hạ sốt, ho đờm thì uống thuốc long đờm, khó thở thì uống thuốc giãn phế quản hoặc thuốc giãn phế quản dạng xịt v.v…, chỉ là chữa triệu chứng và không bao giờ chữa dứt được bệnh.

NGUYÊN NHÂN VIÊM CO THẮT PHẾ QUẢN DỊ ỨNG:

Một số nguyên nhân gây bệnh có thể kể ra là :

* Do ô nhiễm môi trường, bụi bẩn, hóa chất, nấm mốc, khói thuốc lá hoặc do dị ứng với lông thú, phấn hoa… hoặc tất cả các lý do đó.

* Do nhiễm một số dòng virus, vi khuẩn đặc hiệu khí quản như virus hợp bào đường hô hấp thường được gọi là RSV (Respiratory Syncytial Virus).

* Do suy giảm miễn dịch : Người có sức đề kháng kém thường có nguy cơ mắc bệnh viêm phế quản hơn hết. Đặc biệt, vào thời điểm giao mùa, sự thay đổi đột ngột của thời tiết khiến hệ miễn dịch suy giảm, các virus, vi khuẩn sinh sôi làm cường hóa triệu chứng bệnh.

* Do bẩm sinh từ nguyên nhân di truyền.

KẾT LUẬN

VIÊM CO THẮT PHẾ QUẢN DỊ ỨNG là một bệnh phức tạp, cần phải được khám chẩn, điều nghiên chi tiết mới lập ra dược trình chính xác để chữa dứt được bệnh.

Wambuakim

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 15 HERPES BIẾN THỂ VÀ COMBO HERPES

HERPES BIẾN THỂ MỚI VÀ COMBO HERPES

Từ năm 2012 – 2013, Wambuakim đã viết về những chủng Herpes và biến thể của nó, và đã chế tạo ra nhiều loại thuốc diệt chúng trên cơ sở Y Dược học Lượng Tử và chữa trị thành công rất nhiều ca bệnh nhiễm các biến thể đó từ 7 năm nay.

Nhưng vấn đề này mới được “phát hiện” gần đây ở …. Mỹ.

* Herpes có gốc từ tiếng Hy lạp “herpein”, có nghĩa là: “rón rén, di chuyển chậm chạp”. Các siêu vi thuộc nhóm Herpes (thường được gọi là virus Herpes) được đặt tên như vậy là do đặc tính lây nhiễm một cách âm thầm ở người, tiềm ẩn trong cơ thể người và sau đó phát triển thành các biểu hiện của bệnh khi cơ thể bị suy giảm hệ đề kháng và hệ miễn dịch. Nó có các biến thể từ các dạng đồng nhiễm tổ hợp (Combo Herpes).

1/. HSV 1 : Gây nhiệt miệng (cách nói “bình dân” của nhiễm trùng và nhiễm Herpes miệng)

– Bắt đầu là bệnh lở miệng – còn gọi là “Đẹn” (thường xuất hiện ngay từ thuở sơ sinh) , do siêu vi Herpes đặc hữu và các chủng tương cận của nó gây nên.

– Lở quanh mép, miệng, mọc mụt mụn đầu trắng rất buốt trên lưỡi, trong nhu mô miệng và các hạch tuyến trong họng và vòm họng.

– Herpes có thể lan sang ống khí quản, lên xoang gây viêm xoang Herpes, vào ống thực quản, gây hạch cổ lympho (khí quản) và hạch cổ thể tràng nhạc (thực quản). Lâu dài, chúng di thực vào dạ dày và toàn bộ hệ tiêu hóa, vào phổi gây viêm phổi Herpes, thậm chí tấn công màng não và não bộ.

2/. HSV 2 : Sùi mào gà sinh dục (nhiễm trùng snh dục) :

– Gây sùi mào gà, lan vào hệ tiết niệu và hệ sinh sản tạo các polyp ở đấy (polyp tử cung và cổ tử cung, polyp vòi fallov v.v…) và gây các biến chứng phức tạp mà Tây y lẫn Đông y đều không (hoặc chưa) đánh giá đúng mức và cũng chưa có biện pháp trị liệu.

– Kèm theo các vết lở và mụn loét ở âm đạo và cổ tử cung, bệnh nhân có các triệu chứng đau bụng và sốt. Bệnh nhân cũng bị viêm mắt, đỏ mắt, chảy nước mắt, giống như một triệu chứng phổ biến của nhiễm Zika, tụt huyết áp và nhịp tim nhanh. Biến chứng Herpes cực đoan đa nội tạng tiến triển thành sốc nhiễm trùng, suy thận, phổi và các cơ quan khác, và có thể tử vong.

3/. Herpes biến thể và Combo Herpes.

– Hai (2) chủng HSV-1 và HSV-2 có hiện tượng “trộn lẫn” vật liệu di truyền của chúng với nhau, hoặc “tái tổ hợp” thường xuyên hơn so với suy nghĩ của chúng ta trước đây, để tạo những hội chứng khác thường mà tôi đã ghi nhận từ ngay năm 2012 : HSV 1 chỉ gây nhiễm trùng miệng (nhiệt miệng) lại gây nhiễm trùng sinh dục (gây sùi mào gà sinh dục).

– Ghi nhận này phát xuất từ việc thông qua sex đường miệng (đặc biệt với phụ nữ), nó gây sùi mào gà, lan vào hệ tiết niệu và hệ sinh sản tạo các polyp ở đấy (polyp tử cung và cổ tử cung, polyp vòi fallov v.v…) và gây các biến chứng phức tạp mà Tây y lẫn Đông y đều không (hoặc chưa) đánh giá đúng mức và cũng chưa có biện pháp trị liệu.

– HSV-2 có thể đang tiến hóa theo cách cho phép nó kháng với mọi loại thuốc chống virus hiện tại. Khả năng HSV-2 trộn lẫn với HSV-1 cũng có thể là một rào cản đối với sự nghiên cứu ra một chủng loại vắcxin chống lại Herpes.

Xin cung cấp một cái nhìn về Herpes, không ngoa khi nói rằng nó đang là mối nguy tiềm tàng cho tất cả chúng ta ….

———-Wambuakim———-

 

HỎI ĐÁP Y HỌC LƯỢNG TỬ CUỐI TUẦN 11 : BẠCH CẦU CAO

Hỏi (Đồng Miên):

Thưa thầy, thầy cho con hỏi bệnh bạch cầu cao là do đâu ạ.

Mình phải làm Sao ạ thầy

Đáp (Wambuakim) :

1/. Nhận thức bệnh học :

Cần nhận thức rõ rằng KHÔNG CÓ BỆNH BẠCH CẦU CAO.

– Công thức máu của người bình thường gồm 3 yếu tố chính là bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu.

– Nếu vì một nguyên nhân nào đó mà hồng cầu và tiểu cầu bị hủy hoại nhanh (mà chủ yếu là hủy hoại hồng cầu) thì tỷ lệ bạch cầu trong máu cao lên. Ví dụ như có áp – xe hoặc ổ viêm tiềm ẩn nào đó, như viêm khớp do thấp, viêm gan, viêm thận – mật, các ổ viêm nội thể khác thậm chí viêm xương và tủy xương … khó (hoặc chưa) phát hiện được.

Đặc biệt khi tuyến ức bị tổn thương sẽ gây tăng sinh bạch cầu và bạch cầu dị dạng với các triệu chứng tương tự ung thư máu.

– Bạch cầu tăng sinh nhằm thực hiện nhiệm vụ đề kháng cho cơ thể đối với các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là với nhiễm trùng, kể cả nhiễm ký sinh trùng. Do đó mà số lượng (và tỷ lệ) bạch cầu tăng cao trong công thức máu.

– Số lượng (và tỷ lệ) bạch cầu sẽ trở về mức bình thường khi cơ thể hết bị viêm nhiễm

2/. Bạch cầu trong công thức máu :

– Bạch cầu gồm các loại như: đa nhân trung tính (1.700 – 7.000 trong 1 mm3), đa nhân ái toan (50 – 500 trong 1 mm3), đa nhân ái kiềm (10 – 50 trong 1 mm3), mono bào (100 – 1.000 trong 1 mm3), bạch cầu lympho (1.000 – 4.000 trong 1 mm3).

– Số lượng bạch cầu trong một đơn vị máu được kí hiệu là WBC (white blood cell). Một người bình thường thì giá trị của WBC trung bình là khoảng 7.000 bạch cầu/mm3 máu (dao động từ 4.000 – 10.000 bạch cầu/mm3)

3/. Trường hợp đặc biệt :

– Ung thư máu là bệnh mà tỷ lệ bạch cầu tăng bất thường, người mệt mỏi và nhợt nhạt, ốm yếu, hay buồn ngủ, phải thường xuyên nghỉ hoặc ngồi, khó thực hiện các sinh hoạt bình thường, dễ bị chảy máu hoặc bầm (tím); đau buốt trong xương do tủy xương phì đại vì bạo phát và dồn nén bạch cầu, nhanh chóng bị hủy hoại sức sống v.v…. Trường hợp cấp tính thì bệnh nhân có thể bị sưng gan hoặc lá lách dẫn đến đau bụng hoặc cảm giác đầy bụng dưới xương sườn. Một số bệnh nhân bị nôn hoặc buồn nôn do sưng gan hoặc lá lách, thiếu máu (hồng cầu) trầm trọng và khả năng tử vong cao (và rất cao).

– UNG THƯ MÁU, còn gọi là bệnh máu trấng, các tế bào bạch cầu phát triển không bình thường và cơ thể đã sản sinh một số lượng lớn các tế bào máu trắng chưa trưởng thành làm tắc nghẽn tủy xương. Tây Y chưa có đúc kết chính xác nguyên nhân của ung thư máu nhưng đa phần các trường hợp là do người bệnh từng tiếp xúc hoặc sống trong nền bức xạ năng lượng cao, thâm nhiễm điện từ lâu dài hoặc nhiểm các chất độc có chứa một nhóm kim loại nặng, kim loại hiếm, đất hiếm v.v… làm tăng nguy cơ biến dị bạch cầu (cuối cùng là ung thư máu). Ngoài ra, ung thư máu còn có yếu tố di truyền.

– Cho đến hiện nay, chưa có một ca bệnh ung thư máu nào được chữa khỏi bằng Tây Y.

4/. Giải pháp Y Dược Học Lượng Tử :

a/. Dược pháp chủ đạo với triệu chứng bạch cầu cao là :

– Nhanh chóng phát hiện ổ viêm và tiêu diệt các ổ viêm trong thời gian ngắn nhất. Có thể phối hợp với thuốc chống Ung thư (máu) nhằm đề phòng nguyên nhân từ bệnh máu trắng

– Tăng hồng cầu kết hợp chống tan máu (vỡ hồng cầu) + tăng thể trạng (nếu thể trạng suy giảm nhanh).

– Tăng tiểu cầu nếu cần để kiện toàn công thức máu.

b/. Với bệnh máu trắng (ung thư máu) và Thalassemia:

Ngoài các biện pháp cấp thời như đối với triệu chứng bạch cầu cao, bệnh nhân ung thư máu (và Thalassemia) cần được chữa trị tấn công chủ đích bằng :

– Sử dụng thuốc chống ung thư (và chống di căn) ở liều cao nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được.

– Bệnh nhân nhỏ tuổi cần hỗ trợ thải độc, bào vệ gan – thận -mật và các cơ quan nội tạng khác, nếu bệnh nhân quá 45 tuổi thì phải kết hợp chống suy giảm tâm – phế mãn.

– Bảo vệ xương bằng Calci sinh học, giải phù tích cực nhằm giải phóng trương lực tủy xương để giảm các cơn đau nhức buốt trong xương, bảo vệ thành mạch để chống nội xuất huyết và xuất huyết dưới da.

– Việc sử dụng Y Dược Học Lượng Tử đã giúp chữa trị thành công khá nhiều ca từ bạch cầu cao đến ung thư máu khắp từ Sài Gòn đến Hà Nội

———-Wambuakim———-