BÍ ẨN 5000 NĂM CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP AI CẬP (tiếp theo và hết)

SA ĐIỀU : NHỮNG ĐIỀU CHƯA NÓI.

1. Sa điều chuyển cát: Khi cát đã được “sấy” khô dưới ánh nắng mặt trời gay gắt của các vùng sa mạc, thì nó sẵn sàng cho một cuộc du lịch , dù với chỉ một làn gió không lớn. Tại sao vậy?

– Xét trên một hạt cát mẫu, khi vừa di chuyển, nó trượt và cọ sát lên các hạt cát kế nó, thì nó đã đã tạo ra tĩnh điện bề mặt.

– Từng cụm, nhóm cát hạt cát sẽ trao đổi điện tích và mau chóng đồng đẳng điện tích với nhau. Những hạt cát trong phạm vi một cụm cát sẽ có hiện tượng đẩy nhau do có cùng dấu điện tích (hạt cát mang điện dương phía trên, hạt cát mang điện âm “trầm” xuống dười và bị trung hòa điện tích). Nó mau chóng xốp lên và phồng như một túm bông. “Túm bông” cát này sẽ nhanh chóng được các luồng gió nhẹ (>3ms) mang đi rất xa hàng Km mới rơi xuống.

– Hiện tượng đó nhanh chóng tạo phản ứng dây chuyền trên bề mặt của cả một vùng rộng lớn trên sa mạc cát. Nó tạo thành một vùng có tính hoạt động rất cao. Có khi nó tạo ra một khu vực khá lớn và có độ hoạt động rất sâu trên đại mạc, gọi là vũng lấm.

Trích dẫn:

Vũng lấm là một khu vực khá rộng hình thành ngẫu nhiên trên sa mạc. Nơi đó, cát rất xốp do hiệu ứng xô đẩy tĩnh điện, có khi sâu hàng chục mét. Người và vật trên sa mạc khi vô tình vào vũng lấm sẽ bị nuốt chửng, bị chôn sâu nhiều mét mất tích, là một cái chết rất nguy hiểm và khó tránh.

Hiện tượng vũng lấm, có nhiều nơi ở Việt nam gọi là “cát lầm”, và nhiều cái chết thương tâm đã xảy ra dưới sự hiểu biết rất kém, trong sự giải thích mập mờ rất hạn chế của các giới KH VN và cái nhìn mang nét thần bí đặc trưng của cư dân bản địa….

Ca dao cổ VN cũng nhăc đến hiện tượng cát lầm với ý nghĩa là một mất mát lớn vì ngộ nhận :

Hoa sen mọc bãi cát lầm

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen…

………………………………………………….

Chắc trời soi xét nơi đâu

Chẳng soi cảnh thảm cảnh sầu này chọ

Dị bản :

Đem thân vào chốn cát lầm

Cho thân lấm láp như mầm ngó sen

Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn

Than thân với bóng, giải phiền với hoa

– Cát, vì thế mà không còn là “khối” cát mà là “đám bông gòn” cát khi có gió thổi tung lên. Và cứ theo hiệu ứng tĩnh điện mang tính dây chuyền đó, nó được gió không cần quá lớn (chỉ cần > 3 Kms) chuyển đi không mấy khó khăn. Một đêm gió – cát trên đại mạc, ngang với 1.000 máy xúc ủi hiện đại 2500 mã lực làm việc suốt một tuần lễ.

2. Đón cát : Chuyển cát đi thì đã thấy năng lực lớn lao của kỹ thuật sa điều. Nhưng việc tập kết cát về ngay chân Kim Tự Tháp dở dang kia, là cả một sự kinh khủng của trí tuệ ông cha cổ đại của chúng ta.

HỌ DÙNG KỸ THUẬT VI BA

Đó là một vài căn phòng trống rỗng và kín, xây dựng đầu tiên bên trong nơi sẽ là Kim Tự Tháp. Nó cộng hưởng với các giai âm, các chuyển động cơ học trong khí quyển và còn do tiếng trống, tiếng đàn hát, tiếng động di chuyển v.v… của các nhạc công, thợ xây dựng nũa, để tạo ra các dao động vi ba.

Các sóng vi ba này sẽ trung hoà điện tích của các hạt cát đang rất hoạt động do chứa điện tích. Do đó mà chùng trở nên nặng hơn và rơi xuống chân công trình. Các tính toán về tần số, về nặng lượng tới hạn của các hạt cát đủ để trung hoà bằng sóng vi ba đã được hoàn tất.

Trích dẫn:

. . . bên trong lòng Kim Tư Tháp Cheopk có những căn phòng trống rỗng, cộng hưởng tần số vi ba với cường độ và biên độ rất cao, mà cho đến nay chưa ai biết là nó dùng để làm gì ….

… một vài ý kiến cho rằng nó là linh kiện chủ sóng viễn thông liên hành tinh khổng lồ của những nhân vật khổng lồ đến đây từ các hành tinh xa xôi và xây dựng nên Kim Tự Tháp ….

(trích wikipedia)

 

TÂM SỰ “MỎNG”

Xin nói nhanh, xem như không phải trả lời “trả vốn” gì, mà là tí ti “tâm sự mỏng” về quá trình nghiên cứu nhỏ nhoi của mình cho rộng đường dư luận (hay đùa vui gì cũng được).

– Wambuakim đã từng đi lang thang, chịu đói khát và…. nám đen cả người trên sa mạc Egypt hơn 4 tháng ròng rã, mong tìm “thứ gì đó” mà rốt cục chả thấy gì hết. Đó là cách đây gần 30 năm, thời còn… đi làm mướn kiếm tiền học đủ thứ. Cái vụ đi tìm “thứ gì mình chẳng biết” này là do một tay nghiên cứu Ai Cập học đài thọ để tìm cho một ít dữ liệu anh ta chứ không phải Wambuakim tự đi nghiên cứu đâu (lấy tiền học thêm mà). Do Wambuakim may mắn có chút đỉnh ngữ Egypti, mà cái tay “nghêng” cứu nọ thì … không biết chữ Egypti nào. Buồn cười chưa !!!

– Gần 15 năm sau đó, lúc nghiên cứu gạch không nung của đền tháp Champa (xin xem “công nghệ gạch không nung hoá thạch” cùng tác giả) ở nhiều nơi trên đất VN, từ tiểu sa mạc Hương An Quảng Nam – Ba làng An rồi Đồng Dương, Tam Quan (Bình Định), kéo dài đến tiểu sa Bàu Thiêu – Giếng Đá thuộc Chiến Khu Lê Hồng Phong huyền thoại, đến di tích Đại đồn Mang Thít (ngữ Champa, phiên âm tiếng Việt là… Phan Thiết ngày nay) thì anh Vũ Kim mới tình cờ gặp các thầy phù thuỷ sa điều.

– Chứng kiến họ đốt nhang khấn vái, hô phong hoán vũ, kêu gọi thần linh nhiều lần, với con mắt của nhà Lượng tử học và mớ ngữ Champa “giả cầy” học đủ để đi nghiên cứu, Wambuakim nhìn ra ngay khía cạnh vật chất của nó, và hình ảnh sa mạc gió – cát Arabia ùa về. Qua một đêm, hàng ngàn mét khối cát đã được đưa vào đúng chỗ cần thiết, lượng cát mà phải cả nghìn xe ủi hiện đại làm mướt mồ hôi hàng tuần mới mong xong viêc.

Wambuakim chợt “ngộ” ra rằng, tổ tiên Arabia của chúng ta cũng làm chẳng khác.

Gấp rút học mỗi thứ một chút đỉnh ngữ Mongolia, Turmenistani, Pakistani, Afganistani, Arabi và một loạt các ngữ du mục Tân Cương và Trung Á, anh tìm thấy những dấu vết của kỹ thuật sa điều ở khắp mọi nơi nào có sa mạc, …. kể cả ở Egypt (Ai Cập) và Greck (Hi Lạp) cùng bài học chiến thuật sa điều của Đại Hãn Gengis Khan giáng xuống các đại đồn Arab – Ba Tư.

Có một điều khiến cho các nhà nghiên cứu khắp nơi phải thất bại, khó tiếp cận kỹ thuật sa điều, đó là kỹ thuật sa điều ẩn giấu trong hoạt động phù thuỷ mà ta vẫn mê muội cho là mê tín dị đoan.

Do đó mà không ai thèm ngó tới.

Trích dẫn:

Những phù thủy vùng gió cát quả là những chuyên gia khí động thực thụ.

– Như trong bài trên đã nói, muốn ứng dụng kỹ thuật sa điều phải nắm rõ tình hình độ ẩm, hường gió, thuỷ mạo khu vực, nói chung là những chỉ tiêu phong thuỷ. Nếu muốn ứng dụng nó (kỹ thuật sa điều) trên sa mạc Egypt, chắc chắn là anh Vũ Kim phải bỏ ra ít nhất vài năm ăn dầm nằm dể ở Ai Cập hầu tìm ra qui luật phong thuỷ ở đó.

Trích dẫn:

Với một số hiểu biết về hướng gió, phong thổ, họ dễ dàng tạo ra các vùng đất, chỏm đồi v.v…

(Có thể là sau 10 năm, Wambuakim sẽ đi Nam Tư rồi qua Ai Cập vài năm để hoàn tất thực chứng khoa học của kỹ thuật sa điều trên sa mạc Egypt, hoàn tất luận chứng khoa học xây dựng cổ Ai Cập vô tiền khoáng hậu này, rồi mới về VN qui ẩn.

– Về cách chế tạo ra đá bằng nguyên lý hoá thạch thì anh Wambuakim đã thực nghiệm hàng trăm lần, mẫu đá hoàn toàn giống với thiên nhiên, và quan trọng nhất là giống với…. đá Kim Tự Tháp. Độ bóng gia công và độ cứng kiến tạo, độ bền hoá và cơ tương tự với đá Hoa cương ở kỷ Đệ Nhị (Second periode palace) mà anh em học Kiến Trúc hay xây dựng chắc chắn phải biết.

Chúng dính nhau hay không qua cách xây dựng kỳ diệu này ? Cứ xem một con dao “lam” cạo râu mỏng dính cũng khó mà len vào giữa hai mép ghép của các khối đá, thì chúng ta có thể nói nó dính hay không dính? Nếu địng nghĩa “dính” là một liên kết cơ – lý – hoá học cho phép hai khối, mảng vật thể khác nhau được áp chặt vào nhau đến nỗi khó tách rời bằng cơ học (trích Larousse – Bách Khoa Đại Từ điển Pháp Âu – Bản tiếng Đức – 6th edition – Lib Fabrik – Bonn – 1995) thì có nghĩa là chúng dính nhau.

Hay nói khác đi, cấu trúc Kim Tự Tháp Kheophk tương tự một khối liên kết thống nhất, mà đó cũng là một phần tạo nên tuổi thọ công trình kinh hoàng – 5.000 năm – và chưa biết đến bao giờ chấm dứt.

– Không có giả thuyết nào của các lão ngư Bình Thuân. Trích lại câu hỏi của secondhand :

Trích dẫn:

Cho hỏi anh Wambua rằng cái “giả thuyết” của các bác Bình Thuận có công bố cho cả thế giới biết chưa vậy ?

Vì người lập giả thuyết là Wambuakim chứ không phải họ. Họ, những bác Sáu Hạp, bác Bổn La (Bình Thuận) v.v… hay các bác Chang Lu~ Hing (Trang Lực Hành – Tân Cương), anh Muhtah Salamando (Turmenistani), Ganilost Nadem (Pakistani) v.v… là hiện thực chứ chưa và không bao giờ là giả thuyết, và họ cũng chẳng màng đến giả thuyết, vì họ cũng chẳng biết Egypt ở đâu, không như anh Wambuakim – nghiên – cứu – vớ – vẩn (họ nói thế).

Ngôn ngữ Khoa học cần trong sáng và chính xác, nên anh buộc phải đính chính như thế, mong là không phiền lòng các bạn.

– Đề tài này anh Wambuakim đã đóng lại từ lâu, dự định lâu lắc mới mở ra lại và hoàn tất nó. Nhưng xuất phát từ một yêu cầu của các bạn nên mở ra sớm hơn dự định… gần 10 năm.

Việc công bố thì anh em không lo, vì ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, anh Wambuakim đả có viết thông báo trên các tạp chí nghiên cứu KH nổi tiếng là Nature và Science et Vie, xem như “xí phần” trước.

Đôi dòng ngắn ngủi, xem như là tự sự về một công trình, mong là “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Wambuakim. (hết)

BÍ ẨN 5000 NĂM CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP AI CẬP – PHẦN II.

CÔNG NGHỆ XÂY KIM TỰ THÁP

Tóm lại, việc xây dựng Kim Tự Tháp được tiến hành như sau :

1/ Đá được tập kết, sơ chế và vạch các rãnh thu hơi nước, ngưng hơi để thành nước chảy vào các máng, dẫn về bồn chứa.

2/. Nền móng được xây dựng rất giản đơn vì là trên mặt đất. Các khuôn lớn bằng gỗ ván được cài để đổ các hợp chất hoá thạch.

3/. Sau khi lên một tầng xây dựng khoảng 3 mét thí các cánh buổm dược dựng lên, xua cát lấp dần tầng xây dựng đó, tạo ra mặt nghiêng vận chuyển đá. Việc xây dựng vẫn tiếp tục như trước không có khó khăn kỹ thuật nào.

4/. Sau khi ráp những khối đá cuối cùng lên đỉnh tháp thì quá trình gia công tinh cho bề mặt tháp được tiến hành dồng thời với giải phóng cát dần dần. Các vết khắc trên đá sẽ trở thành các đường thẳng tắp với mắt thường mà không cần phải có “các máy chuyên dụng siêu chính xác” như Dupont và các “nhà” khác vẫn nghĩ.

5/. Việc giải phóng cát được tiếp tục thực hiện bằng nhân công thuần tuý trong các phòng nội bộ của tháp, chỉ chừa lại các phòng đầy cát cho mục đích bảo ôn.

Khảo cứu công nghệ này được đúc kết tháng 9 / 1991 với sự giúp đỡ của các lão ngư khu vực Hàm Tiến – TP Phan Thiết.

CÂU CHUYỆN KỂ THÊM VỀ TRUYỀN KỲ KIM TỰ THÁP

Kim Tự Tháp sừng sững giữa sa mạc Ai Cập hơn 5.000 năm, lạnh lùng và kỳ bí như một thiên cổ sử không người biết đọc. Không một ai không bị ấn tượng trước nó.

Napoleon mượn Kim Tự Tháp để nói một câu với các chiến binh viễn chinh Pháp mà cả hai – thiên tài và kỳ quan đều gây xúc động :

“Năm ngàn năm Kim Tự Tháp đang chiêm ngưỡng các người… “

Kim Tự Tháp Kheophk được xây vào năm 2600 trước Công Nguyên, gồm 2,300,000 phiến đá cực lớn, nặng trung bình 2.5 tấn xếp chồng lên nhau, các tảng đá cá biệt là 20 tấn. Với độ cao 146,5 mét, nó tương đương với độ cao của tòa nhà chọc trời 40 tầng, và 2.6000.000 mét khối.

Tổng khối lượng kim tự tháp được ước tính khoảng 5.9 triệu tấn với thể tích (gồm cả một đồi nhỏ bên trong) khoảng 2,600,000 mét khối. Kim tự tháp là công trình lớn nhất Ai Cập và cao nhất thế giới (một kết cấu mới được khám phá ở Bosnia có thể cao hơn).

Khi xây dựng, Đại kim tự tháp cao 280 Cubit hoàng gia Ai Cập (146.5 mét hay 481 feet), nhưng vì bị ăn mòn và bị mất trộm phiến đá trên đỉnh (chóp tháp) chiều cao hiện tại là 455.21 ft, tương đương 138.75 m. Như đã được chứng minh trong nhiều văn tự trên giấy cói, mỗi cạnh đáy thời xưa dài 440 (20.63 inch) cubit hoàng gia. Vì thế, cạnh đáy nguyên thủy dài 231 m mỗi phía và chiếm khoảng diện tích xấp xỉ 53,000 mét uông với góc 51.7 độ— mức lý tưởng cho một kết cấu kim tự tháp ổn định. Ngày nay mỗi cạnh dài khoảng 230.36 mét. Kích thước giảm và vẻ ngoài thô hiện nay vì nó đã mất những tấm đá bóng ốp bên ngoài, một số tấm có kích thước lên tới hai mét rưỡi chiều dày và nặng hơn 15 tấn.

Kim Tự Tháp được nghiên cứu, sờ mó và khám phá từ nhiều phía. Hơn 650 lần bọn trộm cướp lén lút và công khai tấn công kiến trúc vĩ đại đó, lấy đi nhiều hiện vật giá trị. Hơn 2500 lần kkhai quật đào bới, đục đẽo lớn nhỏ của các nhà khảo cổ, từ nền móng cho tới đỉnh các tháp lớn như Khufu đều bị xâm phạm. Trên 47 triệu lượt du khách chỉ trong 20 năm đến với các Kim Tự Tháp, dù mang lại lợi nhuận (mà trong đó có một phần dùng để tôn tạo di tích) cũng góp phần tàn phá, chưa kể mưa acid do ô nhiễm môi trường….

Các Mãnh Sư Đại Thạch (Sư tử nhân hình) án ngữ các Kim Tự tháp cũng dần dần u đầu, mẻ trán, sứt tai. (trích Dr. Kim & Dr Liparmann, Academy Anniversair / 1994)

Sự đắp vá bằng các loại vật liệu xây dựng hiện đại như xi măng portland mark cao tỏ ra không hiệu quả, và những chỗ đắp vá thường bị bong tróc sau chỉ vài chục năm… (trích tư liệu của Uỷ ban Quản lý Kỳ Quan Ai Cập).

Với tuổi thọ nhiều thiên kỷ của Kim Tự Tháp oai hùng, thì Kim Tự Tháp, dù có sứt mẻ, vẫn hiên ngang đứng đó, tiếp tục thách thức thời gian.

Trong thế kỷ 14 (năm 1301 AD), một trận động đất lớn đã làm nhiều tấm đá ốp ngoài rơi ra, sau đó chúng bị Vua Hồi giáo Bahri An-Nasir Nasir-ad-Din al-Hasan mang đi năm 1356 để xây dựng các đền thờ Hồi giáo và các pháo đài tại Cairo gần đó; tới ngày nay, vẫn có thể thấy các tấm đá đó tại các công trình đó. Những nhà thám hiểm sau này đã thông báo về nhiều đống vật liệu vụn nát ở đáy các kim tự tháp hậu quả của sự sụp đổ tấm ốp sau đó và cuối cùng chúng đã bị dọn dẹp cho các cuộc khai quật.

Tại sao mà công trình hiện đại không thể có sức vền vững kỳ diệu của công trình cổ đại? Do kỹ thuật, do vật liệu hay do gì khác? Đó vẫn còn là câu hỏi làm điên đầu tất cả những nhà xây dựng đương đại.

1/. Nghi vấn về việc các khối đá có thể là nhân tạo cũng đã từng được đặt ra.

Trích dẫn:

Nhà hóa học đương đại người Pháp là Da-viđu-uyt cho rằng: đá xây dựng Kim Tự Tháp là những khối đá nhân tạo đổ ép lại, không phải là đá thiên nhiên. Ông đã lấy mẫu các viên đá nhỏ thu được ở Kim Tự Tháp đem về hoá nghiệm. Kết quả cho thấy một số những viên đá này được làm từ những mỏ đá vỏ sò. Vì thế, thời bấy giờ rất có khả năng sử dụng phương pháp “Hóa chỉnh vi linh” tức là trước hết cho bê tông đã trộn vào các khoang sọt rồi mới đưa lên Kim Tự Tháp đang xây, từ đấy mới đúc từng khối một, từng tần từng tầng cao dần.

Nghe qua thì có vẻ có lý. Nhưng khi thấy con số thống kê hơn 95 % đá kim tự tháp là…. đá thiên nhiên thì Davidous bị tẽn tò ngay. Vì thật sự thì đá từ mỏ đá vỏ sò kia (thực chất là sỏi hoá thạch có nguồn gốc trầm tích đại dương, do biến động kiến tạo của vỏ trái đất mà trồi lên mặt đất), làm với bê tông nào để thành đá lớn thì… ông ta không biết.

Năm 1994, trong Academy Anniversair (biên niên sử Hàn Lâm, Deutzche), Dr. Kim và Dr. Liparmann đưa ra phương pháp đá nhân tạo bằng nguyên liệu ngay tại vùng hạ lưu sông Nil. Phương pháp này đã hoàn toàn lý giải được nguồn gốc và phương thức của đá nhân tạo. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả, là phương pháp đá nhân tạo chỉ dùng để làm ra các tảng đá trung gian, chiếm chưa tới 2 % tổng trọng lượng tháp, còn hầu như tất cả Kim Tự Tháp đều làm từ đá thiên nhiên.

2/. Việc đắp các bờ cát thoai thoải để lăn, vần các tảng đá lớn lên các cao trình xây dựng cũng đã từng được nghĩ tới. Thế kỷ V (tCN), Herodotos đã từng nêu ra phương án xây dựng như vậy.

Trích dẫn:

Quá trình thao tác sẽ phải như sau: Trước hết phải xây xong lớp mặt nền, sau đó đắp dốc bằng cát có độ cao bằng tầng thứ nhâ”t rồi trượt theo dốc đâ”t mà kéo đưa đá lên tầng 2 … Khi xây xong tháp mới chuyển đất cát đi, để lộ Kim Tự Tháp ra.

Việc đắp các bờ cát đó là một phương án thông minh, nhưng nhanh chóng phá sản.

Trích dẫn:

Tính toán theo cách làm này thì mỗi ngày thực tế chỉ có thể xâyđược 10 khối đá, mà toàn bộ Kim tự tháp dùng tới 2,300,000 khối đá lớn thì phải dùng tới 230,000 ngày tức là 630 năm.

Vì công đào đắp là quá lớn, khó bề thực hiện nổi.

Việc thực chứng khoa học đối với kỹ thuật sa điều của các cư dân của các vùng đại mạc đã mang lại lời giải đáp thật sáng sủa và hoàn toàn khả thi. Chính sức mạnh vĩ đại của thiên nhiên được con người nhận thức và sử dụng, dù là dưới màu sắc của phù thuỷ và thần thánh, là biểu trưng của khả năng kiến tạo vô tận của con người.

Câu chuyện truyền kỳ này sẽ tiếp tục được Wambuakim khai thác theo dòng công nghệ để các bạn thưởng thức …

(còn nữa)

Wambuakim

BÍ ẨN 5000 NĂM CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP AI CẬP – PHẦN I.

XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP

Năm ngàn năm đã trôi qua trên những sa mạc cát bỏng Ai Cập, những Kim tự tháp khổng lồ vẫn im lặng mỉa mai nhìn những “nhà nghiên cứu ngớ ngẩn” của thế kỷ XX, XXI đặt câu hỏi về kỹ thuật xây dựng ra nó.

– Có người cho rằng phải có những cần trục khổng, khổng lồ ghép bằng ngàn ngàn súc cây teck theo kiểu máy bắn đá, với nửa triệu nhân lực trong 10 năm mới có thể xây dựng nổi Kheophk hay Khufu. Nhưng rồi di tích của cái cần cẩu khổng lồ này không tìm đâu thấy, dù là một mảnh đá dăm của cái bệ (cũng khổng lồ không kém) cũng không tìm đâu thấy.

– Người khác thì lại cho rằng có những giá khổng lồ di động, kết hợp với dây – kéo – toòng – teng để nâng những tảng đá thiên kỷ lên cao, chót vót 300 mét Kheophk.

– Rồi còn chuyện gia công bề những tảng đá có kích thước kinh khủng 5m x 3m x 3 m thế nào mà khi ghép chúng lại, sau 5000 năm, chúng ta vẫn rất khó khăn khi muốn dùng lưỡi… dao lam len vào mép lắp ghép của hai khối đá.

– Một bài gần đây, đăng tải trên web ý tưởng http://ytuong.com.vn/ideas/?view=detail&menu=21&id=2 441

… còn có ý kiến là tháp Kheophk được xây dựng từ bên trong, 1 kiến – trúc – sư Pháp là Jean Piere Houdin cho rằng như vậy. Và anh ta cũng bỏ quên chuyện gia công các khối đá với hệ sai số lắp ghép kinh khủng đó khó khăn đến bậc nào, để cho rằng chỉ cần… 4.000 người thay vì 100.000 người như các phương án trước đó. Nghĩa là đá khổng lồ thì đã được gia công, mài bóng, bằng CNC, và rơi đâu đó từ…. trên trời xuống sa mạc Ai Cập.

– Nhưng nói như thế, thì thực chất, các Tháp vĩ đại Ai cập được xây dựng kiểu nào đây?

Nghiên cứu của Kim_Techno đúc kết từ năm 1990 cho thấy một phương án xây dựng có một không hai của các thiên tài xây dựng Cổ Ai Cập. Chỉ với trên dưới 10.000 nhân công, họ đã chế tác thẫm mỹ cao trên các viên đá khổng lồ, vạch các đường rãnh để hứng hơi nước ngưng tụ vào các bể chứa trong tháp, mài bóng và lắp ghép thành công trình nhiều thiên kỷ.

Trích dẫn:

Năm ngàn năm đã trôi qua trên những sa mạc cát bỏng Ai Cập, những Kim tự tháp khổng lồ vẫn im lặng mỉa mai…

Chúng ta hãy bước vào kịch bản truyền kỳ của KHKT + khảo cổ học.

DẦU VẾT THỜI GIAN và CÁI NHÌN TỪ THẾ KỶ XXI

1/. Những cánh buồm lớn :

Từ những năm 50 của thế kỷ trước, người ta đã tìm thấy những cánh buồm mục nát còn sót lại dấu vết sau quá nhiều năm tháng. Kích thước của những cánh buổm khoảng 15 mét chiều cao và 10 mét chiều rộng. Các Ý tưởng… bở vào cuộc, và cho rằng người Ai Cập cổ đã dùng những chiếc bè chở đá từ những con tàu cập bến sông Nil. Bè có gắn trục lăn, với sự hỗ trợ của sức gió đã đưa đá xây dựng kim tự tháp tới nơi cần thiết…

2/. Tóc người trong lòng những khối đá :

Một phát hiện của cơ quan bảo tàng Ai Cập vào năm 1968 đã làm…. bật ngửa những cái đầu thông thái, và cho đến nay vẫn chưa… ngồi dậy được. Đó là, một trong những phiến đá bị nứt do khí hậu khắc nghiệt của sa mạc, đã lộ ra…. vài cọng tóc người. Quả là một quả bom khảo cổ. Đến đây thì họ…. chịu chết không trả lời được vì sao như thế. Lẽ nào thành tạo của những phiến đá ấy lại cùng niên đại với con người văn minh?

3/. Những “đồi cát chạy” Bình Thuận :

Có lẽ không thể không ngạc nhiên khi Kheophk lại liên quan đến đồi cát chạy Bình Thuận. Nhưng cư dân vùng Hàm Tiến, Hàm Phong, khu Lê Hồng Phong, Cà ná, Phan Rí Cửa v.v… của tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận thì không lạ gì hiện tượng này. Đồi cát chạy là những đồi cát lớn hình thành chớp nhóang chỉ qua một đêm. Hàng vạn mét khối cát được gió chuyển đi một cách êm thấm, sáng thức dậy đã thấy cả một ngọn đồi cát sừng sững, có khi che mất cửa ra vào mới đêm hôm qua. Năng lực khủng khiếp của gió và cát, đã được con người vùng “gió và cát” này sử dụng từ lâu hàng ngàn năm.

Những tấm phên che hay buồm, căng lên phơi phóng ở vùng gió cát, tạo thành các luồng khí chuyển động với năng lượng cao. Với một số hiểu biết về hướng gió, phong thổ, họ dễ dàng tạo ra các vùng đất, chỏm đồi v.v… phục vụ cho việc dựng lán trại, làm nhà ở hay canh tác (chủ yếu là rẫy trồng dưa lấy hạt). Những phù thủy vùng gió cát quả là những chuyên gia khí động thực thụ.

Không chỉ họ (các lão ngư Bình Thuận) biết kỹ thuật sa điều, mà người du mục ở sa mạc Gobi (Mongolia) và Hoàng Thổ (TQ) cũng dùng rất thường xuyên để tôn tạo và gìn giữ các ốc đảo giữa hoang sa bát ngát mênh mông trên các đại lãnh nguyên vùng cực Bắc Trung Hoa. Đại Hãn ngoại Mông Gengis Khan (Thành Cát Tư Hãn) cũng đã từng dùng kỹ thuật lấp cát vượt thành này để chiến thắng trong cuộc tấn công Ba Tư ở Thế Kỷ XIV.

Nói tóm lại, với những cánh buồm khá lớn, người Ai Cập cổ đã hướng cát đến khu vực cụ thể, tạo thành đồi cát lớn, và sau đó có thể triệt hạ nó, cũng bằng những cánh buồm.

4/. Làm ra đá :

Việc tạo ra đá theo nguyên lý hóa thạch, từ cát nhuyễn và vữa lấy ở các mỏ hoá chất hoá thạch lộ thiên của khu vực sa mạc hạ sông Nil, với các phụ gia, người Ai Cập đã làm ra những phiến đá trung gian bằng cách đổ khuôn, hai vách bên là hai phiến đá kế cận nó. Mục tiêu của những phiến đá trung gian này là lấp đầy khỏang trống giữa các khối đá xây dựng. Do đó mà việc có… tóc người rụng trong quá trình lao động xây dựng kim tự tháp, nằm sâu trong các thớ đá nhân tạo này, và độ lắp ghép khít khao đến nỗi dao “lam” cũng khó len vào, là điều không còn khó hiểu nữa.

5/. Lên tận đỉnh Kheophk bằng sức gió :

Đến đây thì có lẽ chúng ta hiểu được rằng, chẳng cần đến các cần trục khổng lồ, hay giá chuyển đá mà kích cỡ kinh hòang của nó theo tính tóan, cũng thấy là vô dụng và bất khả thi.

Những thiên tài xây dựng Ai Cập cổ đã dùng sức gió, bằng những cánh buồm lớn, họ hướng cát về phía các nền móng công trình, và tạo ra những đường lăn nghiêng thoai thoải, đủ để chuyển các viên đá ngoại khổ đó. Tháp xây càng cao thì cát lấp càng cao (dễ liên tưởng đến nước dâng – núi cao của Sơn Tinh – Thủy Tinh của ta). Tất cả việc xây dựng là ở trên mặt đất nghiêng, dễ dàng và thuận tiện mà không cần gì đến các thiết bị sặc mùi…. tưởng tượng kia. Thuận tiện do mặt cát nghiêng mang lại là rất kinh khủng, đủ để các nhà xây dựng thiên tài mặc tình tung hứng các ngẫu hứng kỹ thuật và mỹ thuật của mình.

Khi hòan tất viên đá trên đỉnh tháp, quá trình “đuổi cát đi chỗ khác” lại được các cánh buồm đảm nhiệm trong vài tháng.

Và Kheophk hiện ra trên sa mạc, sừng sững uy nghi, giấu kín trong lòng cát sa mạc bí ẩn thiên kỷ về công nghệ xây dựng nên các đại tháp thần kỳ. Sự tồn tại của những căn phòng đầy cát đến “tận đỉnh trần” trong Kim tự tháp đã được lý giải : Vì nó đã được lấp đầy cát trong quá trình xây dựng.

(Còn nữa)

Wambuakim

VŨ TRỤ ĐA CHIỀU – PHẦN I

 I. LÝ DO ĐỂ VŨ TRỤ TỒN TẠI

Từ khởi thủy của vũ trụ với một vụ nổ lớn (Big Bang) cách đây 13,5 tỷ năm thì vật chất và phản vật chất hoàn toàn cân bằng ở mọi khía cạnh (số lượng, năng lượng, động lượng, các lực lượng tử v.v…). Về mặt lý luận năng lượng lượng tử, hai cá thể vật chất và phản vật chất gặp nhau thì hút nhau mãnh liệt bằng lực tĩnh điện + từ lực lượng tử và hoàn toàn biến thành năng lượng (vụ nổ ở mọi cấp độ và qui mô vật lý). Do đó sự cân bằng tuyệt đối giữa vật chất và phản vật chất đưa đến hiệu quả tất yêu là cả hai đều không tồn tại.

Nghĩa là vũ trụ không có lý do để tồn tại như hiện nay. Nói khác đi, sự tồn tại của vũ trụ như hiện nay là phi lý tính, là bí ẩn khó giải đoán.

Nhiều trường phài Khoa học tìm cách giải thích sự tồn tại “phi lý” này của vũ trụ:

– Vũ trụ đã bất đối xứng từ khởi thủy (nghĩa là cứ n phản hạt thì có n+1 hạt, do đó mà vũ trụ hiện tại là tồn dư của các vụ nổ phản hạt từ Big Bang. Tuy nhiên như thế thì lẽ ra phản hạt và phản vật chất không thể tồn tại trong khi chúng vẫn đang tồn tại).

– Vật chất và phản vật chất khác nhau về từ tính (giả thuyết này nhanh chóng phá sản vì các thí nghiệm Lượng Tử gần nhất cho thấy hạt và phản hạt hoàn toàn không khác nhau về spin và từ tính) hoặc chúng khác nhau về cách thăng – giáng Lượng Tử đối với lực hấp dẫn (nghĩa là vật chất tiến đến gần nguồn lực hấp dẫn còn phản vật chất thì tách xa khỏi nguồn hấp dẫn. Giả thuyết này cũng phá sản vì các đo lường ở CERN/Âu Châu cho thấy không có sự sai khác này).

– Ghi nhận gần đây về Vật Chất Tối cho thấy “hình như” vật chất và phản vật chất đáp ứng hoàn toàn khác nhau với tác động của Vật chất tối và năng lượng tối.

Nói khác đi, nhân loại đã tìm được căn nguyên để vật chất và phản vật chất có sai khác, và đó chính là nguyên nhân để vũ trụ tồn tại như hiện nay.

Tuy nhiên, oái oăm ở chỗ là chúng ta chưa biết được bất cứ thứ gì về vật chất tối và năng lượng tối, ngoài việc biết rằng vật chất tối và năng lượng tối chiếm tuyệt đại đa số trong vũ trụ (95% vũ trụ).

Các khái niệm:

1/. Hạt: là thành phần căn bản nhất của thế giới vật chất, là cơ sở tồn tại của vật chất và năng lượng. Khác với kiến thức cơ sở chỉ có 3 loại hạt chính là Proton, Electron và Neutron, thì Khoa Học Lượng Tử liệt kê đến hơn 300 loại hạt, chia làm hai nhóm : Hạt Sơ Cấp và Hạt Lý Thuyết.

a/. Hạt Sơ Cấp (khoảng 240): bao gồm các nhóm

– Fermion: Fermion là nhóm các hạt có spin bán nguyên, tuân theo thống kê Fermi–Dirac và Nguyên lý loại trừ Pauli.

– Quark: Quark là thành phần cơ bản tạo nên các hạt tổ hợp hadron, bao gồm sáu loại phân chia theo hướng: quark lên, quark xuống, quark duyên, quark lạ, quark đỉnh và quark đáy. Do sự giam hãm màu, các hạt quark không tồn tại riêng lẻ mà luôn ở dạng kết hợp cấu thành các hạt khác.

– Lepton: Nhóm lepton gồm 12 hạt có spin bán nguyên không tham gia trong tương tác mạnh: Điện tử và Positron, Muyon và phản Muyon, Tauon và phản Tauon, 3 hạt Neutrino (νe, νμ và ντ) và 3 phản hạt của chúng (νe, νμ và ντ).

– Boson: Boson là nhóm các hạt sơ cấp có spin nguyên, tuân theo thống kê Bose-Einstein, bao gồm các hạt mang tương tác điện từ (Photon), tương tác yếu (Boson W và Z), tương tác mạnh (Gluon), tương tác hấp dẫn (Graviton) và hạt Higgs.

b/. Hạt Lý Thuyết: Lý thuyết siêu đối xứng dự đoán sự tồn tại của hạt Lý Thuyết nhiều hơn cả tổng lượng hạt Sơ Cấp, và vẫn đang chờ thực nghiệm xác định sự tồn tại của nó.

2/. Vật chất tồn tại do sự ghép các hạt vào trong cấu trúc cơ sở rất đa dạng gọi là các nguyên tử (Atoms); các nguyên tử kết hợp bằng rất nhiều dạng tạo thành Phân tử. Phân tử là một nhóm trung hòa điện tích có nhiều hơn 2 nguyên tử liên kết với nhau bằng các liên kết hóa học. Phân tử được phân biệt với các ion là do chúng không có tích điện. Nguyên tử của phân tử có thể từ một nguyên tố (đơn chất, ví dụ: O2, H2, P4,…) hay nhiều nguyên tố hóa học (hợp chất, như H2O, NH3, CaCO3,…). Các phân tử + các nguyên tử + chân không tạo thành thế giới vật chất.

3/. Phản Vật Chất: là khái niệm vật lý, là tồn tại được cấu tạo từ những phản hạt cơ bản như phản proton, phản electron, phản neutron,…

a/. Thông qua các bước tính toán phức tạp, Dirac đã vạch định ra hướng để tổng quát hóa hai thuyết hoàn toàn riêng rẽ là Cơ Học Lượng Tử và Thuyết Einstein mở rộng. Ông đã giải thích việc làm sao mọi vật càng nhỏ thì vận tốc càng lớn; trong trường hợp đó, các electron có vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Đó là một thành công đáng kể, nhưng Dirac không chỉ dừng lại ở đó, ông nhận ra rằng các bước tính toán của ông vẫn hợp lệ nếu electron vừa có thể có điện tích âm, vừa có thể có điện tích dương – đây là một kết quả ngoài tầm mong đợi.

b/. Dirac biện luận rằng, kết quả khác thường này chỉ ra sự tồn tại của một “phản hạt” của electron, chúng hình thành nên một “cặp ma quỷ”. Trên thực tế, mọi hạt đều có “đối hạt” của nó, cùng với những tính chất tương đồng, duy chỉ có sự đối lập về mặt điện tích. Và giống như proton, neutron và electron hình thành nên các nguyên tử và vật chất, các phản proton, phản neutron, positron (còn được gọi là phản electron) hình thành nên phản nguyên tử và phản vật chất. Nghiên cứu của ông dẫn đến một suy đoán rằng có thể tồn tại một “Phản Vũ trụ” cấu tạo bởi phản vật chất.

c/. Một trong những hiểu biết mang tính kịch bản đó là vật chất và phản vật chất kết hợp lại sẽ tạo ra một vụ nổ lớn. Giống như những cặp tình nhân gặp nhau trong ngày sau cùng vậy, vật chất và phản vật chất ngay lập tức hút nhau do có điện tích ngược nhau, và tự phá hủy nhau. Do sự tự huỷ tạo ra bức xạ, chúng ta có thể sử dụng các thiết bị để đo “tàn dư” của những vụ va chạm này. Chưa có một thí nghiệm nào có khả năng dò ra được các phản thiên hà và sự trải rộng của phản vật chất trong vũ trụ. Khoa học hiện đại vẫn gửi các tín hiệu thăm dò để quan sát sự tồn tại các phản thiên hà.

(Còn nữa)

Wambuakim

LƯỢNG TỬ HỌC – Phần I : VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ

VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ

Nguyễn Ngọc Tàu : Anh Kim cho e hỏi về Vướng lượng tử (một trong bốn đặc tính của cơ học lượng tử), sự liên kết giũa 2 hạt gần như ko lệ thuộc vào khoảng cách, dễ nghĩ nó huyền bí…anh có thể nói về liên kết đó !!!

Wambua

Vướng víu lượng tử nói gọn là vướng lượng tử hay rối lượng tử (quantum entanglement), là một hiệu ứng được phát triển trong cơ học lượng tử, trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau. Ví dụ trực quan nhất là hai electron đặt gần nhau có thể dao động cùng một trạng thái, theo thuyết lượng tử. Bây giờ nếu tách chúng ra xa nhau vài kilômet, ngay cả hàng ngàn năm ánh sáng, chúng vẫn sẽ tiếp tục giữ được mối liên kết dao động đồng bộ này.
Có nghĩa là, nếu hai (hoặc nhiều) hạt (hoặc vật thể) vướng víu lượng tử với nhau thì khi tác động vào một trong chúng (ví dụ thay đổi xung lượng, vị trì hay spin quay bằng điện từ chẳng hạn) thì hạt (hoặc nhiều hạt, vật thể) kia chuyển động đồng bộ NGAY TỨC KHẮC bất chấp khoảng cách không gian giữa chúng lớn đến đâu đi nữa.
Với v = l / t trong đó v là vận tốc, l là khoảng cách giữa chúng và t là thời gian chuyển động đồng bộ thì tốc động lan truyền “vướng víu” nhanh hơn nhiều lần tốc độ ánh sáng có thể truyền giữa chúng.
Điều này rõ ràng trái với tiên đề nổi tiếng “tốc độ ánh sáng là tốc độ tuyệt đối của mọi vật thể có năng lượng” trong thuyết tương đối (đúng ra phải gọi là thuyết Einstein).
Vướng víu lượng tử thoát ly và phủ định trực giác của chúng ta về sự vận hành của thế giới, nó trở thành trung tâm của cuộc tranh luận lý thuyết gay gắt. Phát biểu vướng víu lượng tử của Cơ Học Lượng Tử làm cho Albert Einstein nổi sùng với một đồng nghiệp hồi năm 1948, cho rằng nếu thuyết lượng tử dự đoán như vậy trong các phương trình của mình, thì bản thân thuyết lượng tử là cái vô nghĩa. Einstein miệt thị vướng víu lượng tử là “những tác động ma quỷ từ xa”.

1/. Vướng Víu Lượng Tử Vi Mô :
Từ những năm 1970, một loạt rất nhiều thí nghiệm chính xác đã được thực hiện để minh chứng cho vướng víu lượng tử. Lượng Tử học thực nghiệm đề xuất rằng mọi hạt có thể bị “vướng” từ trước đó, và thậm chí chúng có thể tương tác dù nằm ở hai phía của vũ trụ.
Năm 1982, vật lý và toán học đã có thể chứng minh vướng víu lượng tử bằng toán học, đến năm 2015, thực nghiệm đầu tiên đã có thể khẳng định chắc chắn điều này, công bố trên Tạp chí Nature. Nhóm các nhà khoa học thực hiện thành công thí nghiệm này được dẫn dắt bởi Ronald Hanson, Viện khoa học Nano Kavli thuộc Đại học Hà Lan và rất nhiều cộng sự đến từ Tây Ban Nha và Anh. Thí nghiệm mang tên “loophole-free Bell test” được tham chiếu dựa trên đề xuất của nhà vật lý John Stewart Bell vào năm 1964.Bell tin tưởng rằng đây là một phương pháp chứng minh vướng víu lượng tử có thật.
Theo lý thuyết, vướng víu lượng tử xảy ra khi một cặp hạt (nhiều hạt) vẫn còn tương quan vận động qua khoảng cách theo kiểu mà tác động thực hiện trên một hạt cũng có ảnh hưởng đến hạt (nhiều hạt) kia.
Khi hai hạt vướng víu được kiểm tra, tính chất vật lý của chúng có tương quan. Ví dụ, một spin quay theo chiều kim đồng hồ của hạt A sẽ bằng spin ngược chiều kim đồng hồ với hạt B, bởi một spin kết hợp zero. Tuy nhiên, khi đo một hạt riêng lẻ bị vướng víu có thể xảy ra như là một hành động độc lập, do đó sẽ ảnh hưởng đến các hạt khác – vì vậy ta không thể biết liệu hành động bình đẳng và tương ứng với hạt khác là kết quả của vướng víu lượng tử, hoặc là kết quả của phép đo.
Điều này có thể xảy ra với một cặp hạt đơn lập; nhưng vướng víu lượng tử cũng có thể xảy ra với một hạt duy nhất. Ví dụ, một đơn photon (quang tử), có thể được chia thành hai hạt mà vẫn được kết nối – kết nối đó được gọi là vướng víu lượng tử. Hàm sóng của hạt duy nhất trải rộng trên một khoảng cách lớn, nhưng các hạt riêng lẻ không thể được phát hiện tại nhiều hơn một lần đo, hàm sóng sụp đổ.
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Griffiths sử dụng máy dò homodyne – là, các công cụ có thể đo sóng và tính chất sóng – Giáo sư Howard Wiseman và nhóm của ông đã chứng minh rằng hàm sóng này sụp đổ là sự thực minh chứng cho vướng víu lượng tử. Họ đã khiến hai electron tương tác với nhau ở khoảng cách 1,3km, nghĩa là có tồn tại vướng víu lượng tử giữa chúng. Mặc dù chưa thể xác định chính xác ở khoảng cách xa hơn, nhưng đây thật sự đã là bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của hiện tượng này..

2/. Vướng Víu Lượng Tử Vĩ Mô :
Thí nghiệm của Maria Chekhova đầu năm 2016 về vướng viu lượng tử sử dụng chùm tia đến 100.000 photon và cũng kiểm nhận được vướng víu lượng tử giữa chúng, không chỉ giữa một cặp hạt.
Việc tạo ra sự vướng víu giữa các hạt đòi hỏi chúng phải bắt đầu trong một trạng thái có trật tự cao, điều không phù hợp với nhiệt động lực học, quy trình này chi phối các tương tác giữa nhiệt và các hình thức năng lượng khác. Điều này đặt ra một thách thức đặc biệt lớn khi cố gắng để hiện thực hóa vướng víu lượng tử ở cấp vĩ mô giữa một số lượng lớn các hạt.
“Thế giới vĩ mô mà chúng ta đang sống thường có vẻ rất có trật tự, nhưng nó hoàn toàn rối loạn ở cấp nguyên tử. Các quy luật nhiệt động lực học thường ngăn chúng ta quan sát các hiện tượng lượng tử trong các vật thể vĩ mô”, Paul Klimov, nghiên cứu sinh tại Viện Kỹ thuật phân tử, Đại học Chicago và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.
Trước đây, các nhà khoa học đã vượt qua những rào cản nhiệt động lực và đạt được sự vướng víu ở cấp vĩ mô trong chất rắn và chất lỏng ở nhiệt độ cực thấp (-270oC) và áp dụng từ trường rất lớn (lớn hơn 1000 lần một nam châm ủ lạnh điển hình) hoặc sử dụng các phản ứng hóa học. Mới đây trên tạp chí Science Advances, Klimov và các cộng sự tại Viện Kỹ thuật phân tử đã chứng minh rằng vướng víu lượng tử ở cấp vĩ mô có thể được tạo ra ở nhiệt độ phòng và trong một từ trường thấp.
Các nhà nghiên cứu sử dụng ánh sáng laser hồng ngoại để sắp hàng theo ưu tiên các trạng thái từ tính của hàng ngàn electron và hạt nhân và sau đó sử dụng các xung điện từ, tương tự như những xung được dùng cho chụp ảnh cộng hưởng từ thông thường, làm vướng víu chúng. Quy trình này làm cho các cặp electron và hạt nhân ở cấp vĩ mô có thể tích 40 micromet khối (bằng thể tích của một tế bào hồng cầu) của chất bán dẫn SiC trở nên vướng víu.
“Chúng tôi biết rằng các trạng thái spin của hạt nhân nguyên tử kết hợp với các khuyết tật của chất bán dẫn có các tính chất lượng tử tuyệt vời ở nhiệt độ phòng”, Awschalom, Giáo sư kỹ thuật phân tử tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, nói. “Chúng là cố kết, tồn tại lâu dài và có thể kiểm soát bằng lượng tử ánh sáng và các thiết bị điện tử. Với những ‘mảnh’ lượng tử tạo ra các trạng thái lượng tử bị vướng víu vĩ mô có vẻ như là một mục tiêu có thể đạt được”.
Ngoài sự quan tâm của vật lý cơ bản, “khả năng để sử dụng các trạng thái vướng víu lượng tử mạnh mẽ trong một chất bán dẫn điện tử ở nhiệt độ phòng có ý nghĩa quan trọng đối với các thiết bị lượng tử…

(còn nữa)

Wambuakim

TRÍ NHỚ, SÁNG TẠO VÀ HƠN THẾ NỮA. PHẦN IV

PHƯƠNG THỨC LUẬN KÝ ỨC – Ý TƯỞNG – SÁNG TẠO.

Qua những phân tích nói trên, phương thức luận ký ức – ý tưởng – sáng tạo có thể phát biều với 5 thành phần chính :

1/. Dưỡng chất đủ cho vận động. không thiếu không thừa. Kiểm soát thể trọng và thể lực, kiểm soát (và tăng cường) lưu lượng máu não..
2/. Kiểm soát thời lượng vận động và nghĩ ngơi của não bộ (cân bằng vận động não / thời lượng não “vận động hết cỡ” và thời lượng nào “trống không” phải tương xứng).

3/. Riêng đối với vận động não, không “sa đà” vào SẮC THỌ TƯỞNG HÀNH THỨC (gọi là ngũ uẩn / năm cái sai lầm) mà theo lộ trình tư duy nhất quán là THỂ HIỆN, CẢM THỤ, TRÍ TRI, NGÔN LUẬN, TÂM THỨC, PHÁN ĐÓAN và ĐẠI NGỘ gọi là bảy bước tư duy hay thất tuyệt)…

THỰC HIỆN PHƯƠNG THỨC LUẬN  KÝ ỨC – Ý TƯỞNG – SÁNG TẠO

Nói chung, đối với anh chị em trí thức (cứ mạo nhận là ĐẠI TRÍ cho nó … oai) thì nhận thức và thực hiện phương thức luận KÝ ỨC – Ý TƯỞNG – SÁNG TẠO rất dễ dàng. Tuy nhiên cũng nên nói đôi chút vì đôi khi bận rộn, đa mang, khó có thì giờ suy nghiệm.

1/. Kiểm soát thể trọng và thể lực, kiểm soát (và tăng cường) lưu lượng máu não) : Không có gì dễ hơn là kiểm soát ăn uống, thể dục thể thao, không để thiếu chất hay thừa cân nhằm ổn định THƯƠNG SỐ TRÍ NĂNG. Về tăng cường lưu lượng máu não thì các bài tập “trồng cây chuối”, hay treo dơi (móc chân lên cây thòng đầu xuống) v.v… đều có tác dụng tăng kích thước mao quản não, tăng cường lưu lượng máu não một cách tích cực.
Dĩ nhiên là vấn đề ở (1) này có liên quan mật thiết với (2) và (3)

2/. Kiểm soát thời lượng vận động và nghĩ ngơi của não bộ : Chúng ta đều nhận thức được sự cân bằng cần thiết của vận động và nghỉ ngơi, đặc biệt là thứ mong manh và phức tạp như bộ não.
Bắt não làm việc thì e là dễ hơn bắt não nghĩ nhỉ. Có nhiều người nghĩ rằng não nghỉ khi ta ngủ. Xin thưa không phải như vậy, những nghiên cứu sâu gần đây về giấc ngủ cho thấy não vẫn làm việc với mức độ cao trong khi ngủ. Có một pháp môn rất dễ dàng là THIỀN ĐỊNH, một phương pháp có thể cưỡng bức não nghỉ gần như hòan tòan, thậm chí bắt quả tim ngừng đập một thời gian ngắn được.
Tuy nhiên cũng cần chú ý là THIỀN ĐỊNH chứ không phải NGỒI THIỀN. Thiền định mọi lúc, khi đứng khi ngồi, khi ăn khi nghỉ, khi học tập cũng như làm việc. Thời lượng “thiền định” và làm việc xen kẽ nhau và liên tục cân bằng (giống với xử lý xen kẽ trong kỹ thuật CDMA).

3/. Bảy bước tư duy :Đây là vấn đề lớn của nhân loại và không dễ dàng nhận thức được ngay.
Về các bước của tư duy, rất nhiều trường phái triết học đã đưa ra con đường của mình, giản đơn có, phức tạp có, thậm chí trường phái HIỆN SINH (J.P. Sartre) còn “xổ toẹt hết các bước tư duy để chỉ còn TRỰC GIÁC và tôn sùng trực giác. Các bạn có thể tìm hiểu thêm, chúng tôi chỉ nêu ra phương thức tư duy cuả mội triết gia nổi tiếng Đức (K.M.) vì dễ tìm tài liệu hơn hết.
Các bước tư duy của ông ta được phát biểu cô đọng là : “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường phát triển của nhận thức”.

Ở đây ta có thể thấy sai lầm lớn mà chỉ cần sử dụng một ví dụ đơn giản..
– Từ trực quan sinh động (bạn ấy tát tai mình…. đau quá)
– Đến tư duy trừu tượng : “tên náy ác, là kẻ hằn thù sâu xa với mình mà cái tát này là biểu hiện của sự căm thù không kìm được v.v.. và v.v…” (trừu tượng để qui chụp đủ thứ “mũ”)
– đến thực tiễn : “sẵn súng trong tay, cho nó một phát cho nó …. lành (đòanh)”
Tóm lại, con đường tư duy “ba bước” nghe có vẻ giản đơn của triết gia M luôn luôn tiềm ẩn cái ác, dễ đưa đến đấu tranh, bạo lực, chỉ biết có lợi ích nhóm của mình mà xem thường đồng loại.

Về “ngũ uẩn” thì tài liệu có rất nhiều, các bạn nên tìm hiểu thêm. Bảy bước tư duy là vấn đề quá lớn, chúng tôi sẽ viết chi tiết hơn.

(còn nữa)

WambuaKim

TRÍ NHỚ, SÁNG TẠO VÀ HƠN THẾ NỮA. PHẦN III

HÀNH TRÌNH CỦA KÝ ỨC VÀ SÁNG TẠO

Tóm lại, chúng ta tạm có các kết luận sau :

A/. Không thể ép não làm việc quá sức mà không có phương pháp cung cấp đủ máu cho nó hoạt động trong điều kiện mới. Đó là tự sát.

B/. Không phải là không có cách tăng cường năng lực của não người, vì ta chỉ mới dùng hơn 300 triệu trong 14 tỷ tế bào thần kinh ở màng não. Tuy nhiên đó không phải là những thứ tự phát như bàn luận trên kia.

C/. Nói chung là không được đùa với não, cần phải biết có hệ thống về nó để. . . không dám đùa dai.

Một bạn trẻ kể trải nghiệm kinh hòang như sau :

“Hic, chưa hiểu gì hết về họat động cũa não bộ mà đã dám xúi người ta này nọ, bạn cuong_vsc liều ghê thật”.
Không ít người “sống dở chết dở” vì cái vụ rèn luyện kiểu “I Tờ” này. Nói có chứng cứ : anh Nguyễn Đình Tùng, gốc Thụy Khuê, Hà Nội, tập tành theo cái kiểu “ép uổng” tự phát đó mà bỗng dưng liệt cả nửa người.
Không phải là không có người đạt đến trí nhớ khá ấn tượng bằng phương thức tự phát như cuong_vsc, nhưng không phải là ai cũng được. Thể tạng, thể trạng và bẩm sinh não bộ có những yêu cầu và phương thức vận động riêng có ở mỗi người. Liên hệ anh Sơn ở Cầu Gíấy, Yahoo nick : letheson_5981 để hiểu rõ hơn. (Wambua chưa được phép của bạn Tùng).
Mong là chúng ta chớ thêm người nghe xui dại để mắc các dị chứng đau lòng đó.

Hầu như mọi kiểu “luyện trí nhớ” một cách kinh nghiệm và đầy bất trắc đó, đều dựa trên vận động có tính giải thuật. Nó có thể làm tăng chút đỉnh hiệu quả chỗ này, nhưng làm bế tắc chỗ khác của não bộ. Điều này giải thích nguyên nhân vì sao có sự “đãng trí bác học” đến mức kỳ dị.

Xem tổng lưu lượng máu não mang năng lượng để não hoạt động, là một chiếc bánh, thì chức năng này tăng lên – đồng nghĩa với chiếm phần lớn hơn trong chiếc bánh – thì hầu như tức khắc, phần năng – lượng – bánh cho chức năng khác bị co lại.

Phần nào phải co lại thì cho đến hiện nay nhân loại chưa có khả năng biết.

Brain Gym, dù sao cũng có chút ít cơ sở Y – sinh học : tác động đến “phần cứng” của não. Còn việc anh ta mang đến cho chúng ta cái gì, lợi hại như thế nào thì các bạn tự nghiên cứu vậy. Tài liệu tiếng Anh về Brain Gym rất nhiều . . .

Về ký ức thì ký ức thính giác, ký ức thị giác, ký ức giao tiếp – tiếp xúc, ký ức logic, ký ức động v.v… đã được nghiên cứu khá kỹ, và không phải là cái gì mới mẻ. Hàng ngàn năm trước, người ta đã dựng ra một hệ thống luyện tập rất tinh kỳ với hiệu quả không thể tưởng tượng được, tính khoa học còn cao hơn cả nhân loại hiện đại.

TRÍ NHỚ RỜI RẠC LÀ BẢN CHẤT CỦA KÝ ỨC (Randon Access Memory)

Trong khi người ta tìm mọi cách để liên kết các dữ kiện rời rac lại, móc vào nó những liên hệ quái đản CHO DỄ NHỚ thì chúng ta quên hẳn rằng trí nhớ rời rạc mới là căn bản và bền vững. Ví dụ rất giản đơn là khi học bản cửu chương, ai cũng học từ “hai nhân một là hai; hai nhân hai là bốn …” một cách tuần tự. Nhưng càng về sau, thầy giào vẫn kiểm tra bằng cáh bất thần hỏi : “sáu nhân năm ?”, trò trả lới “ba mươi”
Điều đó nghĩa là trí nhớ “liên hệ” đã trở thành trí nhớ rời rac, và nó là yêu cầu căn bản chứ không phải cái bản cửu chương kia. Đối diện với câu hỏi : “sáu nhân năm ?” mà phải lần mò từ “sáu nhân một, sáu nhân hai …” là bị quát vì không đạt.
Một thiền ngôn Ấn Độ cổ có ghi :
लोगोंकेरूपमेंलोगोंकोयाद (Lōgōṁ kē rūpa mēṁ lōgōṁ kō yāda )
इसलिएनहींकिउनकेरिश्तेकी (isali’ē nahīṁ ki unakē riśtē kī)
dịch Hán Việt :
“hoài nhân vi nhân (nhớ người vì bản thân người ấy)
bất vị thiên địa tập” (không phải vì quan hệ của họ với đất trời)
Chứng tỏ từ ngàn xưa, cổ nhân cũng đã biết rất rõ giá trị của trí nhớ rời rạc, thậm chí họ còn RỜI RẠC HÓA CÁC KÝ ỨC HỆ THỐNG để đi đến với CHÂN KÝ ỨC.

THƯƠNG SỐ TRÍ NĂNG.

Để đo lường tiềm năng và mức độ của họat động não thì gần như nhân loại … bó tay. Tâm não điện đồ cũng chỉ nêu ra vận động và một phần nhỏ bệnh lý của não. Còn các phép thử IQ, EQ v.v… chỉ là những tham khảo có tính tương đối, đôi lúc có kết luận nực cười kiểi : “em bé 5 tuổi thông minh hơn A. Einstein” (!!!).

Từ xưa, con người đã biết đến tương quan giữa trọng lượng bộ não với cơ thể, nhưng nhận thức đó không thành hệ thông cho đến bây giờ. Nhưng ngạc nhiên thay là nó được phát biểu thành THƯƠNG SỐ TRÍ NĂNG cách nay … hơn 2500 năm.

Thương số trí năng là tỷ lệ về trọng lượng giữa não bộ với trọng lượng cơ thể.

Nếu xét theo thương số trí năng thì rõ ràng nhân loại là loài cao nhất, tiếp đến là cá heo, tinh tinh Gozzilla, cá nhà táng ….. rồi đến các loài khác. Điều này gần như chính xác với thực chứng khoa học hiện đại.

Một phán đóan có tính loại suy là cùng ở một con người, với bộ não bình thường, dưỡng chất đầy đủ, thì anh ta sẽ thông minh hơn khi trọng lượng cơ thể anh ta bé hơn. Có lẽ các cách “khổ hạnh” của các nhà tu cổ đại (bớt ăn bớt uống, tiết kiệm vận động, giảm cân có phương pháp ….) và phong trào giảm cân của con người hiện đại có mối liên quan mật thiết với nhân thức này.

(còn nữa)

WambuaKim

TRÍ NHỚ, SÁNG TẠO VÀ HƠN THẾ NỮA. Phần II

CƠ CHẾ SINH HỌC NÃO NGƯỜI
Về trí nhớ và các phương pháp tăng cường trí nhớ, chúng tôi đã “đụng chạm” rất nhiều trong hơn 45 năm trời. . . đi học. Nhiều bạn bè đã trở thành người… dở hơi sau khi áp dụng hàng loạt cách tăng cường trí nhớ kiểu tự phát.

Và xin có nhận xét chung về những “phương pháp” kiểu tự phát đó là hết sức nguy hiểm. Xin cung cấp cho các bạn cơ chế Cơ – Sinh học Não người để các bạn rộng bề tham chiếu.

1/. Cơ cấu bộ não thì chúng ta chả còn lạ gì vì chán vạn thông tin đến với ta như thác lũ. Có thể tóm gọn như sau :

– Hơn 3 triệu năm trước, với cấu trúc não người Pitecantrop, chúng ta có khoảng 1 tỷ tế bào thần kinh não, là cơ sở cho trí thông minh của con người xuất hiện.

– 450.000 năm trước, ở người Neanderthall và sau đó là người Cromagnon, để thoả mãn sự phát triển của ngôn ngữ và công cụ mà số tế bào thần kinh ở đấy đã là hơn 3 tỷ, trong khi thể tích hộp sọ chỉ tăng lên 1,25 lần. Do thiếu không gian để màng não bành trướng mà màng não phải “nhăn” lại thành một số nếp gấp (diện tích màng não tăng nhanh hơn diện tích thành trong của hộp sọ thì phải “vò nhăn” màng não để thoả mãn nhu cầu không gian).

– Thời kỳ đầu của người hiện đại – Homo Sapien Sapien cách nay hơn 300.000 năm thì số tế bào thần kinh não đã là 7 tỷ và hiện nay là 14 tỷ tế bào thần kinh. Do đó mà các nếp nhăn trên màng não càng sâu hơn để tạo thành các thuỳ não với cơ cấu và phương thức truyền thông tin cực kỳ phức tạp. Trong khi đó thì thể tích hộp sọ chỉ tăng lên có. . . 2,20 lần, và tổng lượng máu cung cấp cho não / đơn vị thời gian chỉ tăng 1,8 lần từ người tiền sử tới người hiện đại.

Chúng ta chỉ sử dụng khoảng hơn 300 triệu tế bào thần kinh cho tất cả các hoạt động ăn, ngủ, sinh tồn và học tập cũng như làm việc…

2/. Trong quá trình tiến hoá của các thể tồn tại trên mặt địa cầu, chưa hế có một sinh vật nào có mức độ tiến triển về cơ chế điều khiển – thần kinh nhanh như con người. Chú ý rằng, vì cơ sở sinh sản của con người – khung xương chậu và cơ quan sinh dục ngoài của phụ nữ không tăng lên đáng kể trong 250.000 năm so với tăng hơn 2 lần của hộp sọ thai nhi, mà cuộc sinh nở của người Mẹ mới phải chịu sự chèn ép cơ học và đau đớn đến thế.

3/. Số lượng tế bào thần kinh tăng gấp hơn 10 lần từ Pitecantrop đến Homo Sapien- Sapien, trong khi lượng máu cung cấp lên não chỉ tăng có 1,8 lần. Điều này làm cho hoạt động trí năng của con người không tăng tương xứng. Hoạt động của não càng phức tạp thì khả năng và vùng hoạt động cũng như độ nhạy của nó càng thu hẹp.

Hình minh hoạ thuyết Cơ Học Não – Von Neumann.

Ghi chú giữa bài :

– Với hơn 10 liên kết thần kinh phức tạp của mỗi tế bào thần kinh thì chỉ 300 triệu tế bào thần kinh đã so sánh với khoảng 3 x 10 (mũ 90) transistors. Con số này làm kinh hoàng mọi nhà nghiên cứu bộ não nhân tạo.

– Qua 3 phân tích trên, ta thấy rõ là việc sử dụng bộ não không khác gì sử dụng một chiếc máy cả. Nghĩa là càng ép nó hoạt động nhanh vượt mức cung cấp năng lượng (máu lên não) thì não người cũng như máy móc đều có nguy cơ hỏng hóc nhanh hơn, làm việc kém tin cậy hơn. Máy thì còn sửa chữa hay thay thế linh kiện giản đơn, còn não người thì… không đùa được – chết chắc.

– Một số người đã ép bộ não tội nghiệp và hạn hẹp khả năng của mình làm việc quá sức để rồi một ngày nào đó trở thành… dở hơi, nói lảm nhảm và lang thang đây đó. Mọi tinh anh đều mất hết. Vì sao vậy ?

Điều này là do lượng chất thải sinh học của não không được vận chuyển đi khỏi não, tích tụ lại và gây bại (một vùng) não, thậm chí hoại thư một vài thành phần não bộ.

4/. Những bộ não có trí nhớ và khả năng sáng tạo thiên tài đều có những cơ chế – cơ địa đặc biệt hoặc một chế độ luyện tập đặc hiệu. Vì lý do đó mà lượng máu đưa lên não của họ cao hơn hẳn người thường, do đó mà các chất độc trong não (do quá trình đồng hoá – dị hoá sinh học để lại) được tải đi nhanh hơn, năng lực hoạt động của não tăng và vận động cơ học – sinh học não hoàn hảo hơn. Quá trình đưa độc chất khỏi não cần một hoạt động tích cực gọi là nghỉ não – lãng quên và hoàn tác ở một kiểu cách và phương thức mới.

(Còn tiếp)

Wambuakim

TRÍ NHỚ, SÁNG TẠO VÀ HƠN THẾ NỮA. Phần I

(Memory, creative and more)

CÁC CÁCH GHI NHỚ TỰ PHÁT CÓ DẪN ĐẾN SÁNG TẠO ?
Ý tưởng luôn luôn là tiền đề của sáng tạo. “…Trong số các nguyên lý chung của việc tạo ra ý tưởng, theo Young có hai nguyên lý quan trọng.
– Nguyên lý đầu tiên có thể thấy rõ trong phát biểu của Pareto: đó là, một ý tưởng đơn giản chỉ là một tổ hợp mới của các yếu tố cũ (đã biết).
– Nguyên lý thứ hai là khả năng tập hợp các yếu tố cũ (đã biết) thành một tổ hợp mới phụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận biết các mối quan hệ….”
Vì vậy TRÍ NHỚ chắc chắn là rất quan trọng cho việc tạo ra Ý tưởng, khâu quan trọng nhất trong chuỗi hành trình sáng tạo.
(theo ý kiến của cuong_vsc)
Một số các phương pháp rèn luyện trí nhớ được cổ xúy, “thu xếp” để bộ não làm việc hợp lý hơn, “nhồi nhét” được lượng thông tin nhiều hơn, bền hơn trong một thời gian ngắn hơn. Đó toàn là những “thủ pháp” vặt vãnh, nhỏ nhặt và không cơ bản. Ví dụ như để nhớ cụm mẫu tự ATWUXVTSCK có phần cấc cớ thì moi ra cách đặt câu … kỳ kỳ trong một liên đới hỗn mang : “Anh Tôi Wa’ Ư Xấu Và Thích Sờ Con Kiến” chẳng hạn.
Hoặc là nhớ một chuỗi cac thừ “hầm bà dằng” như phải nhớ 1 dãy danh sách những đồ cần mua: “Chả, trứng, lịch, pho mát, tờ báo, phi lê gà, sốt cà chua, một ổ bánh mì Pháp, rau dền, sữa chua, nước rửa chén” thì làm thế nào ?
Thế là bày ra một câu chuyện không đầu không đũa và có phần phi lý để liên kết nó. Ví dụ “….Hãy tượng tưởng bạn đang trên một cuộc hành trình và dọc đường ai đó ném một mẫu chả và một cái trứng vào bạn. Bạn phải lau chùi chúng bằng một tấm lịch (bây giờ nghe có vẻ hài hước). Trong khi bạn đang làm việc này, bạn nhận ra rằng tấm lịch này được làm bằng pho mát.
Vì bạn cảm thấy đói bụng, bạn quyết định ăn pho mát với tờ báo. Bạn vẫn cảm thấy đói bụng và quyết định ăn một miếng phi lê gà lớn với sốt cà chua. Khi bạn đang làm như vậy, ai đó sử dụng một ổ bánh mì Pháp và đánh bạn vào đầu. Bạn quay lại và thấy Popeye người Thủy thủ cầm ổ bánh mì Pháp và anh ta ăn rau dền. Bạn mời anh ta ăn sữa chua mà có mùi giống như nước rửa chén….”
Những kiểu cách kỳ quái hơn nữa cũng được đặt ra một cách tùy ý và tự phát, chỉ nhằm liên kết những cái đáng phải rời rạc.
Một bạn than :” trước đây mình đi học ở trung tâm Tâm Việt ( Đội Cấn , Ba Đình , Hà Nội ) , khoá học ” Tư Duy Sáng Tạo ” , bài học về trí nhớ của tụi mình cũng chỉ dạy những tiểu xảo để ghi nhớ , trong đó có các cách như cuong_vsc đã đưa ra. Bọn mình cứ loay hoay với những tiểu xảo ghi nhớ ấy , một thời gian ngắn sau thì… quên béng hết”.
(theo trang_IAm)
Nói tóm lại, những cách ghi nhớ kiểu đó không có lối nào thông vào lâu đài sáng tạo. Chúng vô bổ mà lại thêm phần nguy hiểm khi bản thần nó (cach ghi nhớ) cũng bị quên cùng một loạt dữ liệu khác có trong chủ thể trước đó.

(Còn nữa)

Wambuakim